Đối thoại với Trần Khải Ca (5)

24 Tháng 10
Tháng 10-24-2009 Post by LệChi  
Chuyên mục: Truyện dịch


Tác giả: Lý Nhĩ Uy
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi

CHƯƠNG 2: THỜI THƠ ẤU, GIA ĐÌNH, VÀ 4 BỘ PHIM ĐẦU

1. Bối cảnh đối thoại:

Trong ấn tượng của tôi, Trần Khải Ca luôn là một kẻ cô độc, thích đắm chìm trong suy nghĩ. Ông rất hiếm khi xuất hiện trước công chúng và rất thích ngồi một mình ở đâu đó lẩn mẩn suy nghĩ. Cứ nhìn đôi mắt sắc nhọn và trĩu nặng của ông thì khắc biết. “Tôi thường thích ngồi trên sàn nhà bên ngoài buồng tắm trong căn hộ ở Manhatan, ôm lấy đầu gối, đắm chìm vào suy nghĩ như lạc vào giấc mơ. Buổi sáng, khi vợ tôi dậy đi làm, tôi đã ngồi ở đó. Buổi tối khi đi làm về, tôi vẫn ngồi ở đó, mắt nhìn trời, miệng hé mở”-ông miêu tả cuộc sống học sinh của mình hồi còn ở New York như vậy.

Trần Khải Ca sinh trưởng trong một gia đình đặc biệt. Bố ông là Trần Hoài Kỷ-một đạo diễn nổi tiếng của Xưởng phim điện ảnh Bắc Kinh (nổi tiếng từ sau bộ phim Bài ca thanh xuân đồng đạo diễn với Thôi Ngôi). Mẹ ông là Lưu Yến Trì nguyên là một diễn viên, sau đó chuyển nghề, đảm nhận công tác duyệt kịch bản tại Xưởng phim Bắc Kinh.

Thời thơ ấu của Trần Khải Ca hạnh phúc hơn những đứa trẻ khác vì luôn có mẹ kể chuyện cho nghe, dậy con học thuộc thơ Đường… Những điều này dần dần bồi dưỡng nên niềm hứng thú sâu sắc của ông đối với văn học cổ điển. Khi ông vừa học được cách độc lập tư duy thì cách mạng văn hoá bùng nổ, thời trung học của ông cũng vì thế mà chấm dứt. Mùa xuân năm 1969, chàng thanh niên Trần Khải Ca 17 tuổi cùng hàng nghìn thanh niên khác bị đưa xuống vùng nông thôn tỉnh Vân Nam để giáo dục lại. Trong một nông trường thuộc bản Xi Soang Bản Na, ông cùng nhiều bạn cùng trang lứa phải khuôn gạch, vác dao đi khai phá rừng hoang, trồng cây cao su. Cũng tại đây, ông kết bạn với Chung A Thành-con trai của nhà lý luận điện ảnh nổi tiếng Chung Điểm Bùi. Sau này, Chung A Thành đã lấy những kinh nghiệm thời kỳ ở Vân Nam viết thành ba cuốn tiểu thuyết là Vua cờ, Vua cây và Vua trẻ con. Trong đó có cuốn Vua trẻ con đã được Trần Khải Ca chuyển thành phim. Sau hai năm sinh sống tại nông trường cao su ở Vân Nam, Trần Khải Ca được tuyển vào quân đội, tới đóng tại ráp gianh biên giới Vân Nam. Những thể nghiệm cuộc sống trong quân ngũ sau này đã được ông làm thành bộ phim Đại duyệt binh.

Sau ba năm quân ngũ, ông mới được phục viên, quay về Bắc Kinh. Lúc này, Trung Quốc đã khôi phục chế độ tuyển sinh đại học, ông thi đỗ vào khoa đạo diễn Học viện điện ảnh Bắc Kinh. Cùng khoá với ông có Trương Nghệ Mưu, Cố Trường Vệ, Tiêu Phong ở khoa Quay phim, Tạ Viên ở khoa Diễn xuất, Hà Quần ở khoa Thiết kế mỹ thuật… Những người này đều trở thành những thành viên chủ yếu trong đội ngũ sáng tác điện ảnh thế hệ thứ 5 của Trung Quốc.

Sau khi tốt nghiệp, Trần Khải Ca được phân về Xưởng phim điện ảnh Bắc Kinh làm phó đạo diễn. Hai năm sau, ông làm bộ phim đầu tay Hoàng thổ ở Xưởng phim Quảng Tây. Bộ phim được ví như quả pháo đầu tiên của Trần Khải Ca khiến mọi người kinh ngạc. Cách vận dụng ngôn ngữ điện ảnh trong bộ phim này khác hẳn với cách vận dụng truyền thống của điện ảnh đại lục, mang phong cách riêng. Cách quay phim của Trương Nghệ Mưu đem lại cảm giác một vùng cao nguyên hoàng thổ và trời cao lồng lộng với những khuôn hình mới mẻ. Các nhà phê bình đã gọi Hoàng thổ là “bộ phim hay nhất đại lục từ trước tới nay”. Câu chuyện tuy rất đơn giản nhưng lại sử dụng phương thức quay hoàn toàn khác hẳn với phong cách truyền thống: phong cách chủ nghĩa hiện thực, lối kể như thơ ca, những khuôn hình như tranh vẽ, lại đậm chất thơ… Tất cả đều khiến các nhà điện ảnh trong và ngoài nước phải chấn động. Trong thời kỳ đầu, bộ phim bị cấm chiếu, nhưng sau khi được công chiếu ở LHP Hồng Kông và nhận được nhiều lời đánh giá tốt, lệnh cấm này đã bị xoá bỏ. Rất nhanh sau đó, bộ phim được coi như tác phẩm mở đầu của nền điện ảnh Trung Quốc mới. Trần Khải Ca nhanh chóng được coi là đạo diễn trẻ có tương lai nhất Trung Quốc. Cũng từ đó, Hoàng thổ  được mời công chiếu ở nhiều LHPQT, bao gồm cả Tuần lễ phim mới của các đạo diễn mới tại Viện mỹ thuật hiện đại New York, LHP Montréal, LHP Nante (Pháp), LHP London…, và nhiều lần giành được các giải thưởng lớn quốc tế.

Trần Khải Ca luôn là một kẻ ngược dòng với điện ảnh truyền thống. Cũng chính vì vậy, phim của ông luôn đi theo phong cách hoá cực độ. Chính sự ngược dòng được xây dựng trên cơ sở hiện thực và ý nghĩa triết học này mới khiến ông xác lập được địa vị khiến người đời phải ngưỡng mộ trong giới điện ảnh quốc tế. Đồng thời cũng khiến cho điện ảnh Trung Quốc tiến những bước dài ra thế giới.

Sự xuất hiện của Đại duyệt binh – bộ phim thứ hai của ông- một lần nữa lại gây nên sự quan tâm chú ý của giới điện ảnh trong và ngoài nước. Số phận của bộ phim này cũng giống như Hoàng thổ: bị cấm công chiếu một năm. Mãi tới năm 1987, khi Trần Khải Ca đồng ý dựng lại toàn bộ, bộ phim mới được phép công chiếu. Về phần xử lý hình ảnh, Đại duyệt binh vẫn duy trì được phong cách tươi mới như trong Hoàng thổ, nhưng về phần chủ đề có phần khái niệm hoá. Bộ phim đã đoạt giải đặc biệt của BGK tại LHPQT Montréal lần thứ 11 tại Canada và giải Bộ phim xuất sắc nhất tại LHPQT thanh niên lần thứ 5 tại Italy.

Năm 1988, bộ phim Vua trẻ con ra đời, là bộ phim đậm màu sắc cá nhân của Trần Khải Ca nhất, cũng là bộ phim Trung Quốc đại lục đầu tiên được mời tham dự LHPQT Cannes. Bộ phim đã phê phán rất sâu sắc về vấn đề văn hoá và giáo dục Trung Quốc, đoạt được nhiều giải thưởng lớn: Giải Đặc biệt cho đạo diễn tại LHP Kim Kê Trung Quốc lần thứ 8, giải Đặc biệt của BGK điện ảnh và truyền hình quốc tế thuộc tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc, giải Bộ phim có tìm kiếm mới trong hoạt động bình chọn tại Bỉ (1988), giải Cống hiến cho giáo dục tại LHPQT Cannes lần thứ 41.

Năm 1989, Trần Khải Ca được Khoa điện ảnh Đại học New York, Mỹ, mời sang du học. Trong thời gian gần hai năm sống ở New York, ông đã có những nhận thức mới đối với điện ảnh. Việc Vua trẻ con không được công nhận ở Cannes khiến ông ý thức được sự khác biệt về văn hoá sẽ đem lại khoảng cách thưởng thức đối với khán giả. Ông quyết định chuyển thể cuốn tiểu thuyết Mệnh khổ cầm huyền của nhà văn Sử Thiết Sinh thành phim vì thứ mà nó quan tâm tới cũng chính là chủ đề chung của nhân loại. Năm 1990, Trần Khải Ca quay về Bắc Kinh, quay bộ phim thứ tư mang tên Vừa đi vừa hát với sự trợ giúp của bố trong tư cách cố vấn nghệ thuật. Ở đầu phim, ông cho đánh dòng chữ “Xin dâng tặng cho mẹ tôi”. Vì trong thời kỳ ông sống ở New York, mẹ ông đã qua đời ở Bắc Kinh. Trần Khải Ca đã không kịp về dự đám tang mẹ nên muốn qua bộ phim này bày tỏ lòng thương nhớ tới người mẹ đã khuất. Nhưng thật đáng tiếc, bộ phim này mãi tới nay vẫn chưa được phép công chiếu, mặc dù đã nhận được giải Tulip vàng cho Bộ phim xuất sắc nhất tại LHP châu Á Istanbul tại Thổ Nhĩ Kỳ và giải Bộ phim xuất sắc nhất tại LHPQT Singapore. Bộ phim kể về một nhạc sĩ lớn và học sinh của mình trọn đời đeo đuổi lý tưởng, một câu chuyện dân gian tươi đẹp giàu ẩn ý, nhiều lớp nghĩa như một câu chuyện ngụ ngôn. Khuôn hình tuyệt đẹp, những cảnh vật độc đáo và âm nhạc réo rắt trong phim khiến khán giả một lần nữa bị chìm đắm trong cơn say mãi không dứt.

Từ bốn bộ phim đầu của Trần Khải Ca, có thể thấy rõ, ông là một “đạo diễn điện ảnh nhà văn” điển hình. Ông rất ít khi sử dụng minh tinh đóng phim, cũng không coi trọng sử dụng điện ảnh để kể chuyện hoặc làm khó dễ cho các khán giả bình dân khi tiếp nhận bộ phim.

Năm 1993, Trần Khải Ca lại thay đổi phương pháp thể hiện, làm ra bộ phim Bá Vương biệt Cơ kinh động cả giới điện ảnh quốc tế. Đây là một tác phẩm điển hình vừa nhã vừa tục trong điện ảnh Trung Quốc, được làm rất tinh tế, qua câu chuyện đầy ắp những vui buồn của hai con người đã lột tả được quá trình phát triển lịch sử Trung Quốc suốt nửa thế kỷ. Qua bộ phim này, không chỉ đạo diễn thể hiện rất xuất sắc, mà các diễn viên cũng diễn xuất rất tuyệt vời. Bộ phim đoạt giải Cành cọ vàng tại LHPQT Cannes lần thứ 49 (tháng 5/1994). Bằng những phương thức khác nhau, bộ phim khiến người xem phải ngẫm lại về lịch sử và văn hoá, với những hình tượng thị giác giàu phong cách, kết cấu khuôn hình mới mẻ, ngôn ngữ điện ảnh được ngụ ngôn hoá và sức phê phán trĩu nặng. Bá Vương biệt Cơ là một bộ phim vừa kể câu chuyện, lại vừa sử dụng nhiều minh tinh lớn làm đề cương. Điều này có nghĩa là Trần Khải Ca đang thay đổi mình, xuất hiện trong một hình tượng mới.

Sau khi ông từ LHP Cannes trở về không lâu, tôi và ông đã tiến hành một cuộc trò chuyện khá đặc biệt với những chủ đề có liên quan tới gia đình, quá trình trưởng thành, những suy nghĩ về văn hoá, tới cấu tứ sáng tác cho năm bộ phim đầu…

 

2. Điện ảnh là con dao phẫu thuật:

LNU: Có nhà phê bình điện ảnh Mỹ đã từng nhận xét rằng, ông là một đạo diễn luôn đắm chìm với quá khứ. Trong cuốn tự truyện của ông mang tên “Thiếu niên Khải Ca”, chúng tôi cũng phát hiện thấy ông có nỗi nhớ mãnh liệt về thời thơ ấu và thời niên thiếu, đồng thời miêu tả chúng rất tinh tế. Bá Vương biệt Cơ cũng là một bộ phim nồng đượm những hoài niệm xưa. Và nghe nói bộ phim mới của ông có tên Hoa Ảnh (sau này đổi thành Phong Nguyệt) cũng đặt bối cảnh câu chuyện vào thập niên 20 của thế kỷ 20?

Đạo diễn TKC: Nói tới hoài cổ, tất yếu phải nói tới lịch sử. Tôi cho rằng con người có lúc đứng trước lịch sử rất đỗi bị động, cũng giống như dòng sông khi tới khúc ngoặt, có những chiếc lá dập dềnh trôi trên mặt nước. Đó là bạn không thể quyết định được. Những thứ đã qua quá trĩu nặng trong kí ức tôi, có đau khổ, có nhung nhớ, cũng có những kinh nghiệm. Lịch sử đang không ngừng được lặp lại. Nó có quy luật phát triển tự thân. Từ trong lịch sử, chúng ta có thể phát hiện ra mình, giải phẫu mình. Và điện ảnh chính là một con dao giải phẫu sắc nhọn.

 

3. Trưởng thành trong Tứ Hợp Viện:

LNU: Ông có biết gì về bối cảnh xã hội và hoàn cảnh gia đình mình khi ông mới sinh không?

Đạo diễn TKC: Tôi sinh vào tháng 8/1952 tại Bắc Kinh. Năm đó ở Bắc Kinh có một cuộc họp hoà bình thế giới, vì vậy bố tôi đặt tên tôi là “Khải Ca”, với hàm ý con chim bồ câu hát vang lời hát ngợi ca hoà bình. Do đó tôi đến với thế giới này dường như có chút liên quan tới hòa bình. Tôi trưởng thành trong khu nhà Tứ Hợp Viện ở ngõ nhỏ Bắc Kinh. Bắc Kinh thời đó khác xa bây giờ. Tôi luôn lưu luyến day dứt với khung cảnh thời thơ ấu như bị hồn ma ám ảnh. Cho tới giờ, tôi vẫn có thể nhớ rất rõ cái ngõ nhỏ đó, khu nhà Tứ Hợp Viện đó và hàng bạch dương, hàng tùng xanh nơi đó. Nhớ mồn một như thể khu tường thành kiến trúc tráng lệ của Cố Cung, công viên đượm màu vua chúa của Di Hoà Viên và Bắc Hải. Thời thơ ấu của tôi bị tác động mạnh mẽ của văn hoá cổ thành Bắc Kinh. Tôi đã có một thời thơ ấu tuyệt diệu, được sinh trưởng trong một gia đình đều làm công tác điện ảnh. Bố tôi là đạo diễn, mẹ tôi làm biên tập kịch bản. Từ nhỏ, tôi đã là một đứa trẻ khát khao học hỏi. Còn nhớ năm tôi lên 5, mẹ đã cho tôi đọc các loại sách cổ như Thủy hử. Nhưng giờ kể ra cũng rất kỳ lạ, một đứa trẻ mới 5 tuổi làm sao có thể đọc được Thủy hử cơ chứ? Nhưng quả thực tôi đã đọc. Tất nhiên, thứ hấp dẫn tôi trong đó là những hình vẽ. Từ nhỏ, tôi đã là một đứa trẻ có thói quen tưởng tượng và rất ít nói, suốt ngày câm lặng, có phần ngây dại, khác hẳn với lũ trẻ hoạt bát bây giờ. Sau khi đi học, tôi thích nhất đọc sách. Hồi đó ngày nào cũng phải đi học, chỉ có chiều thứ bẩy được nghỉ. Tôi luôn mong hôm đó trời nắng ráo để một mình ở nhà ngồi đống sách cổ. Cũng chính vì chăm đọc sách cổ nên tôi biết được gần hết các chữ phồn thể.

 

4. Từ nhỏ không thích trò chuyện:

LNU: Ông là người chịu tác động sâu sắc từ văn hoá truyền thống. Theo tôi biết, tác động này bắt nguồn từ mẹ ông và niềm ham thích của ông đối với văn học cổ điển Trung Hoa. Vậy tác động của một người mẹ làm biên tập kịch bản và một người bố làm đạo diễn điện ảnh đối với ông như thế nào?

Đạo diễn TKC: Chúng tôi rất ít khi trò chuyện với nhau bởi tình cảm khi nói ra lời đã trở thành dung tục. Mẹ tôi rất thích văn học và âm nhạc. Bà có tác động tới tôi suốt đời. Khi tôi lên 5 tuổi, mẹ dậy tôi đọc thơ Đường, thơ Tống. Lên 8 tuổi, mẹ kêu tôi học violon. Từ nhỏ, tôi đã không thích trò chuyện, thường xuyên chìm đắm trong trạng thái như ngơ ngẩn, chính mẹ đã lôi tôi trở về. Từ nhỏ, bà đã quan tâm tới tôi, hy vọng tôi học được nhiều thứ nhưng không bao giờ ép buộc tôi phải trở thành một học sinh gương mẫu. Bà luôn nhắc nhở tôi thứ gì sẽ có tác dụng trong tương lai của tôi. Và luôn cùng chia sẻ thời niên thiếu với tôi bằng thái độ nhàn nhã. Tất cả những điều này đã để lại ấn tượng rất sâu đậm trong tôi. Còn nhớ một ngày hè tháng 7, mẹ ngả lưng trên ghế mây, dậy tôi đọc thơ cổ. Lúc đó, mẹ bắt đầu ủ bệnh, đó là nguyên do sau này bà mất sớm. Giờ đây, tôi vẫn có thể đọc làu làu những đoạn thơ đó. Phải công nhận rằng, mẹ chính là người thầy đầu đời của tôi. Bà không chỉ dạy tôi nhận mặt chữ, biết đọc, mà còn dạy tôi biết sống. Gần ba trăm bài thơ cổ mà tôi còn thuộc tới ngày nay đều do mẹ tôi dạy từng bài một như vậy. Mẹ cũng rất nghiêm khắc, cũng đánh đòn tôi khi không thuộc bài. Khi đánh đòn, mẹ luôn cười, ra lệnh “Chìa tay ra” cũng rất dịu dàng. Tất nhiên mẹ không đánh đau, nhưng tôi vẫn nhớ mãi. Không phải vì đau hay ấm ức mà nhớ, mà vì khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười của mẹ. Đột nhiên tôi cảm thấy không thể phụ lòng mẹ, không thể để mẹ lại phải giơ roi và bắt tôi chìa tay ra. Mẹ là một phụ nữ rất đặc biệt, mặc dù chỉ là một cán bộ bình thường, hồi trẻ có tham gia cách mạng, gia nhập Đảng năm 17, 18 tuổi. Mẹ là một người rất yêu nước, cũng rất nghiêm túc và quy củ. Mẹ sinh trưởng trong một gia đình giàu có, sau này, nhà ngoại tôi chuyển tới sống ở Đài Loan. Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời bà là tới tận lúc nhắm mắt vẫn chưa được tận mắt nhìn thấy bố mẹ đẻ. Đối với tôi, mẹ luôn có đòi hỏi tinh thần rất cao. Chúng tôi đều cầm tinh con Rồng. Mẹ mất năm tôi mới ba mươi mấy tuổi. Lúc đó tôi thấy mình bị tổn thương nghiêm trọng về tinh thần. Nó khiến tôi phải nghĩ tới vấn đề coi trọng sinh mạng. Tôi được hưởng mọi thứ thuận lợi đều nhờ mẹ tôi. Bởi trong quá trình từ “trước cách mạng văn hoá” tới “cách mạng văn hoá”, mẹ luôn gồng gánh được gia đình mặc cho hoàn cảnh lúc đó rất bất lợi. Đặc biệt từ khi bố tôi gặp phải điều gì phiền muộn, mẹ luôn tươi cười động viên ông. Thực ra không cần phải nói nhiều, chỉ cần gương mặt rạng rỡ đó đã như một liều thuốc an thần, như một món quà tốt nhất. Tôi thấy trong lúc nguy nan nhất, những người vẫn luôn giữ được nụ cười mới thực là lẫm liệt, tất nhiên số người này chỉ được vài người. Đó chính là tác động lớn nhất của mẹ tôi đối với tính cách của tôi. Tức là: bạn cần phải tươi cười đối mặt với khó khăn, đối mặt với cuộc sống của bạn, đối mặt với bất kỳ tình huống nào bạn có thể gặp được. Lúc còn sống, mẹ luôn dạy tôi: “Thứ mà mẹ theo đuổi chưa chắc đã phải là thứ mà mẹ hằng tin tưởng thời trẻ”. Một người ngây thơ đến vậy, có thể tin tưởng một thứ có thể thay đổi cuộc sống của bạn, là một chuyện rất quan trọng. Thực ra nghệ thuật nói đến cùng là giúp đỡ mọi người có thể duy trì được sự ngây thơ đó. Tôi thấy bố và mẹ đều giống nhau, đều là những người thầy về tinh thần của tôi.

LNU: Trong ấn tượng ông, bố ông là người có tính cách ra sao? Đã tác động tới ông ở những phương diện nào?

Đạo diễn TKC: Trong ấn tượng tôi, bố rất nghiêm khắc và luôn bận rộn. Thời nhỏ, tôi thường chạy đi xem ông làm phim. Có lần tới xem làm phim Hoang nhân Bắc Kinh, trong trường quay dựng nên một bức tường đất rất lớn, có một chiếc máy kéo. Tôi ở đó bốn tiếng, chỉ thấy diễn viên không ngừng tập vai, chưa hề quay một cảnh nào. Lúc đó, tôi thấy làm phim thật vô vị, không ngờ sau này tôi cũng trở thành đạo diễn. Hồi đó trong mắt tôi, điện ảnh là một câu chuyện. Mọi việc trong nhà tôi đều một tay mẹ lo liệu. Mỗi khi bố đi làm phim về, luôn vỗ đầu tôi, hỏi thăm chuyện học hành. Năm 1978, khi tôi đăng ký thi vào Học viện điện ảnh, ông từng phản đối tôi. Vì theo kinh nghiệm ông, đạo diễn điện ảnh là một nghề nguy hiểm. Tôi nói: “Con muốn đăng ký thi vào khoa đạo diễn Học viện điện ảnh Bắc Kinh”. Câu trả lời của ông là “Không”. Ông nói làm đạo diễn điện ảnh quá vất vả, không chỉ về thể lực mà về tinh thần thường bị dày vò-tự mình dày vò mình-, vì muốn thành công. Đó là một nghề rất khó. Nhưng khi tôi cương quyết: “Con đã quyết định rồi, dù thành công hay không, con cũng muốn thử”, bố gửi cho tôi một lá thư, nói: “Nếu vậy, con hãy nhớ kĩ một câu, dù  bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được bỏ nghề”. Tới nay, có những lúc quả thực tôi gặp rất nhiều khó khăn gian khổ, cứ nhớ lại câu nói này, tôi lại không thể bỏ nghề. Khi tôi nhận được giấy báo nhập học của Học viện điện ảnh, bố tôi đang làm phim Dòng sông chảy xiết  ở Hồ Nam. Tôi đã viết thư hỏi ý kiến và ông đã đồng ý. Ảnh hưởng của bố đối với tôi vô cùng quan trọng. Tôi có được những hiểu biết cơ bản nhất đối với điện ảnh đều từ ông. Tất nhiên cũng phải kể tới việc giáo dục ở Học viện điện ảnh. Do quá bận rộn nên có lẽ trong truyền thống Trung Hoa, tôi không được coi là một đứa con hiếu thuận. Tôi không dành nhiều thời gian chăm sóc bố mẹ. Khi bố tôi bệnh, tôi cũng không biết nói thế nào để an ủi ông. Có thể nói bố mẹ là bầu trời của con cái. Một khi bố mẹ không còn nữa, bầu trời của con cũng sụp đổ. Hồi đầu tôi không nhận ra được điều này, mãi đến sau khi ông qua đời. Nhưng tôi luôn cho rằng sự ra đi của ông là một cái kết quang vinh, vì sau khi trải qua bao khổ sở, ông không hề bị khuất phục. Ông cũng yêu tôi và là một người tốt. Nhiều người làm công tác điện ảnh đứng tuổi đều nhớ tới ông, đều cám ơn ông đã từng giúp đỡ họ. Đối với tôi còn hơn cả vậy. Chút thành công mà tôi có được ngày hôm nay thực ra đều nhờ bố tôi đứng trên. Quả thực đúng như vậy. Bố mẹ tôi cũng rất tôn trọng tôi, tức là: con muốn làm gì, tự lựa chọn lấy.

 

5. Bố mẹ luôn ở quanh tôi:

LNU: Ông giờ đây thành công như vậy, chắc bố mẹ ông trên trời cũng biết, nhất định sẽ tự hào vì ông.

Đạo diễn TKC: Tôi thấy mình chỉ làm việc mà họ hy vọng tôi sẽ làm, nhưng họ không hề đặt ra cho tôi một mục tiêu theo kiểu: Con nhất định phải làm đấy! Trái lại, qua những lời trò  chuyện với bố tôi trước đây có thể thấy rõ, thực ra ông hy vọng tôi có thể lui lại, không nên quá dốc sức, quá lao lực, không nên lấy sức khoẻ trả giá cho thành công trong sự nghiệp. Tôi thường an ủi họ rằng: Con vẫn còn thời gian khấn thầm. Tôi thấy bố mẹ vẫn luôn sống cùng tôi. Nhất định họ cũng thấy được an ủi.


Related Posts

  1. Đối thoại với Trần Khải Ca (1)
  2. Đối thoại với Trần Khải Ca (6)
  3. Đối thoại với Trần Khải Ca (11)
  4. Đối thoại với Trần Khải Ca (20)
  5. Đối thoại với Trần Khải Ca (23)

Gửi bình luận

Bạn có ý kiến gì hãy viết ở đây...
Muốn có Avatar, Xin vào gravatar đăng ký!