Người con gái đói khát (15)

Tác giả: Hồng Ảnh
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi
Dịch theo nguyên tác bản tiếng Hoa “Cơ Ngã Nữ Nhi”
Nhà xuất bản Ly Giang, 2001
CHƯƠNG 4
1
Sau bữa cơm, tôi ngồi lì bên bàn, lòng nặng trĩu, nhìn anh chị tôi đi ra đi vào. “Lục Lục, đừng xị mặt ra như vậy. Nói thực, mẹ để con sống được đã tốt lắm rồi. Người sống là tất cả, đừng nghĩ ngợi gì nữa”, mẹ ngồi bên giường, vừa nói vừa thoăn thoắt khâu lại mép gối bị xổ chỉ.
Mấy ngày không gặp mẹ, xem ra mẹ vẫn chưa quên đề tài cũ, luôn nhắc nhở về chuyện thi đại học của tôi. Tôi tức tối nói: “Mẹ không ủng hộ con chuyện ôn thi cũng không sao, việc gì phải nhắc tới chuyện sống chết nữa?”.
“Thì đúng là có chuyện đó”, mẹ nói, “Dì Ba con, em họ mẹ còn thân thiết hơn cả hai chị em cùng mẹ sinh ra, chẳng phải không sống nổi đó sao?”.
Mẹ nói lần cuối cùng mẹ mang thuốc đã sắc, tới bên bến đá nhà dì Ba, đó là đầu xuân 1961. Dì Ba nằm trên giường, người sưng phù bị không đủ dinh dưỡng, nước da trong suốt, mặt sưng to như chiếc đèn lồng dán giấy đỏ. Mẹ sắc thuốc lá cho dì lau người. Dì Ba vốn là một người buôn bán nhỏ có mở tiệm giết gia súc, thuê người làm, sống cũng sung túc. Đầu thập niên năm mươi, chồng dì Ba không những không thể thuê người làm, mà cửa tiệm còn bị sung công quĩ. Chồng dì Ba bị tống giam vào năm 1957. Nguyên do là khi ở tiệm trà, ông đã nói một câu, giờ đây khi Đảng cộng sản đã là nhà, mọi thứ đều tốt, nhưng cuộc sống của ông vẫn không bằng được như hồi trước giải phóng. Ông bị người bẩm báo, điều tra, lại bị gán tội tham gia Đạo Môn Hội, bị coi là phần tử xấu, bắt đi lao động cải tạo.
Để sống sót, dì Ba đành phải tự kéo xe đi chở thuê, nuôi hai đứa con trai còn quá nhỏ. Nhưng rồi do bệnh tật, cả hai đều thay nhau chết. Dì không còn hơi sức kéo xe nữa, phải ra chợ nhặt đầu thừa đuôi thẹo, hoặc giặt thuê cho người khác.
Nghe kể dì bệnh nặng, mẹ tôi vội vượt sông sang thăm.
Vừa nhìn thấy mẹ, nước mắt dì liên tục lăn trào, gắng gượng ngồi dậy trên giường bệnh, nắm chặt cánh tay mẹ tôi, nói, Chị Hai ơi, chị xem em ra nông nỗi này, khó đợi được nhà em trở về.
Mẹ tôi vội vã đi lấy nước pha cho dì bột đậu vàng. Lúc đó mọi người đều nói đậu tương dinh dưỡng rất tốt, có thể cứu mạng. Dì Ba không chịu ăn, nói rằng, Nhà chị đông miệng ăn, chị Hai mang về cho các cháu.
Mẹ tôi để lại gói bột đậu, không ngờ dì Ba chết rất nhanh.
Một ngày chủ nhật đầu đông năm 1961, mẹ đang ngồi trong sảnh, một người đàn ông tiều tụy, nom rất lạ tới trước cửa khu nhà, vừa nhìn mẹ vừa đi vào. Tới gần mẹ, người đàn ông đó cất tiếng gọi, Chị Hai. Lúc này mẹ mới nhận ra đó là chồng của dì Ba. Chú ấy phải đi lao động suốt bảy năm, đã ngồi được bốn năm, lẽ ra vẫn còn ba năm nữa. Mẹ giật mình hỏi em ra bằng cách nào?
Chú Ba không đợi ngồi trên chiếc ghế đẩu mẹ đưa, mà ngồi phệt luôn trên bậu cửa nhà tôi. Áo quần của chú nom rách rưới, mắt hầu như không mở ra nổi. Trước đây khi nói chuyện, chú rất hay cười và rất thích nói chuyện tếu, rất biết cách giả bộ nghiêm trang trong khi kể, để mặc mọi người cười nghiêng ngả. Chú rất thích sạch sẽ, đầu tóc luôn chải gọn gàng thẳng thớm, sao giờ đây chả khác nào một cọng cỏ dại, mặt mũi nhiều vết đồi mồi, lại ngồi phệt đít xuống bậu cửa như vậy?
Chú kể trong trại cải tạo không có gì ăn, các phạm nhân đã đào sạch cây cỏ dại, những thứ bay được trên trời như chim sẻ, chạy được dưới đất như chuột đều bị ăn hết sạch, không còn chút bóng dáng. Dân địa phương vùng đó cũng tinh luyện không kém phạm nhân, bắt sạch mọi thứ có cánh và có chân. Trong đám phạm nhân có người chết vì bệnh tật và già yếu, những người còn sống cũng không còn sức để chôn người chết. Quản giáo quyết định thả chú ra sớm, cho chú quay về Trùng Khánh, giao cho khu phố đó “giám chế”.
Chú nói: Nhà em đi rồi, không chịu đợi thêm vài tháng. Mẹ đang đau khổ chưa biết báo tin dì Ba chết vì đói ra sao thì chú đã biết.
Chú Ba nói, chú không còn chỗ nào để đến. Khu nhà cũ thấy dì Ba chết, nhà không có người liền thu luôn căn nhà một trệt một lầu ba phòng của chú, giao cho Cục quản lí nhà đất, phân cho người khác ở. Tất nhiên chủ hộ mới cương quyết không cho chú vào nhà.
Mẹ tôi chưa nghe rõ vì bị hàng xóm gọi ra bếp. Nơi đó đã có mấy người hàng xóm thuộc lớp giác ngộ giai cấp cao, có cả nam và nữ. Họ nói thẳng với mẹ tôi rằng: Chị không thể để một thằng tội phạm bị lao động cải tạo ở lại trong khu nhà này. Có giữ lại cũng không ai dám cho kẻ thù giai cấp đó hộ khẩu đâu. Chị làm gì có đủ ăn để nuôi một cái miệng vốn dĩ đáng phải chết? Sao không nhanh chóng đuổi hắn đi, càng sớm càng tốt. Họ không để mẹ tôi nói xen vào được câu nào. Giọng họ nhỏ nhưng sắc lạnh, cố tình để chú Ba vẫn đang ngồi trên bậu cửa nghe thấy.
Hàng xóm nhà tôi xem ra vẫn khách sáo với chú, không trực tiếp xông thẳng vào đuổi chú đi. Mẹ tôi ngần ngừ hồi lâu rồi đi ra khỏi bếp, chú Ba đã bỏ đi. Mẹ vội vàng vùng ra khỏi đám người vẫn đang vây quanh bà, vội đuổi theo.
Chú Ba cơ thể ốm o, không thể đi nhanh được, mẹ đuổi kịp chú. Trên bờ núi gập ghềnh, cây cối năm đó cành lá đều trụi thui lủi, chưa kịp nảy mầm. Đợi ăn lá non vẫn chưa phải lúc. Mẹ chìa ra hai đồng, chú Ba không chịu nhận. Mẹ nói, Chú mà không nhận, hôm nay tôi nhất định không để chú đi.
Chú Ba đành nhận tiền và nói: Em rơi vào thế nạn này mà chị còn giúp em.
Rồi chú khóc.
Mẹ cũng khóc, khóc thương cho mình không đủ năng lực để giữ một người thân.
Hai tuần sau, mẹ không yên tâm, đi đò qua bãi đá thăm nhà cũ của cô chú Ba. Hỏi thăm mấy người, đều nói không biết tung tích của chú. Nơi đó đã có một hộ sáu người tới ở. Quả nhiên đúng như chú Ba nói, nhà bị tịch thu, sung công, mọi đồ đạc trong nhà bị bán hết, nhà bị phân cho hộ khác.
Chú Ba lang thang quanh đó vài ngày, không có chốn nương thân. Tất nhiên không ai chịu cho chú hộ khẩu và suất lương thực. Mặt và người chú đều sưng phù vì đó. Lúc này có ăn xin cũng khó. Bởi ăn mày ngày càng nhiêu, người thừa cơm hầu như không có. Hàng đêm, chú ngủ trong một nhà xí công cộng dưới bờ đá, không ăn không uống, lạnh lẽo không có nổi một mảnh vải rách để đắp, cứ thế lả đi, chết đói. Mắt chú không tài nào nhắm được, cứ mở trừng trừng rất to. Người phụ nữ sống trong nhà chú Ba vừa kể vừa phác lên như vậy.
Còn xác thì sao? Mẹ thấy người lảo đảo, liền bám vội vào khung cửa.
Mang đi rồi. Đột nhiên cô ta như phản ứng lại, hỏi mẹ tôi: Chị là gì của hắn ta? Mà thôi mặc kệ chị là ai, nghe tôi đây, đừng hỏi han về hắn nữa. Hắn là một thằng phạm nhân từng bị đi lao động cải tạo. Đừng chuốc rắc rối nữa. Nói xong, cô ta khép hai cánh cửa gỗ lại. Mẹ tôi đành lui ra khỏi bậu cửa, để cái cửa trước mắt đóng sập một tiếng rõ kêu.
“Sao lúc đó tôi chỉ cho chú ấy hai đồng thôi? Trên người mình rõ ràng còn năm đồng. Chú ấy cố tình tới tìm nhà chúng ta. Trước đây khi nhà chúng ta gặp khó khăn, chú ấy đã hết lòng cứu giúp. Lúc đó mẹ đã mang thai con. Mẹ đã vì con, để chú ấy phải chết vì lạnh và đói. Trước đây khi giúp chúng ta, chú ấy rất rộng rãi”. Mẹ dùng răng cắn đứt sợi chỉ, thu dọn lại chỗ kim chỉ, liếc nhìn tôi một cái. Câu nói mà mẹ vừa nói lại vang lên bên tai tôi: Để con sống được đã tốt lắm rồi.
Cái nhà xí công cộng đó cũng không khác gì các nhà xí khác, vừa bẩn, hôi thối, rách nát, nếu ngồi không cẩn thận rất dễ bị lọt chân xuống hố phân. Chết ở nơi đó thà chết ở ngoài trời còn hơn. Tôi cảm thấy trong liều thuốc ân hận của mẹ, đều tự trách mình- mẹ có thể chịu mọi áp lực, để chú Ba vừa đói vừa bệnh ở lại trong nhà, chí ít cũng có thể vài ngày. Nếu mẹ có thể chịu đựng được áp lực đó cũng là quá toàn mĩ rồi. Nhưng mẹ không làm được như vậy. Mẹ ích kỉ, mẹ sợ. Thùng gạo trong nhà rỗng không, lọ dầu không có dầu, trên đầu luôn lơ lửng cái mũ chụp “có vấn đề về chính trị”. Vì anh chị em tôi, và càng vì tôi nữa, mẹ đành co rúm lại.
Vì tôi, mẹ đành chịu bất nghĩa, để chú Ba bị đói chết. Vì điểm này, tôi cũng không cần phải giằng co với mẹ về chuyện cho tôi theo học tiếp. Chí ít hôm nay tôi cũng không thể gây chuyện với mẹ.
Nói như vậy, ngay từ khi chưa sinh ra đời, tôi đã là một người có tội.
Related Posts
No related posts.




