Phượng Hoàng (20)

Tác giả: Cửu Đan
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi
2
Đó là một khu biệt thụ cũ kĩ như nhiều năm không hề tu sửa. Tôi đoán chắc hẳn nó cũng có ít nhất một trăm năm lịch sử. Úc Kính Nhất vừa mở cửa ra, tôi nhìn thấy một con chim đậu trên vòm nhà rất cao bay soạt ra, khiến tôi giật mình. Ông ta quay lại dặn:
“Đừng sợ, nhà này từ trước đến giờ vẫn vậy.”
Ngoài cửa sổ chỉ nhìn thấy chút nắng chiều sót lại. Trong nhà rất tối. Úc Kính Nhất lấy bật lửa ra khỏi túi quần, châm nến. Dưới ánh nến chập chờn, cảnh tượng trong nhà dần hiện lên trước mắt tôi như trong một cốc đảo, như một chuồng ngựa bỏ hoang. Trong cảnh hoang vắng đó, mé bên trái kê một chiếc bàn ăn đơn giản và một bộ sô pha vây quanh nom khá nhỏ. Tấm thảm dưới chân hầu như không phân biệt nổi màu gì. Trước mặt tôi là một chiếc cầu thang xoáy trôn ốc màu gụ. Úc Kính Nhất nói:
“Mỗi lần bước vào đây, tôi đều nhớ lại thời thanh niên của mình. Lần đầu tiên tới ngôi nhà này cũng là một buổi chiều tối. Từ London tới Singapore, lúc đó giao thông không thuận tiện như bây giờ. Lúc đó thầy giáo của tôi đưa tôi đi bằng đường thủy, mất một tháng mới tới được Singapore. Những ngày tháng cuối cùng của ông ấy chính là ở đây, chết ở đây và được tôi chôn ở đây. Nào, em đi theo tôi.”
Tôi đi theo ông, băng qua phòng khách, tới bên cửa sổ. Ông đẩy bung cánh cửa sổ, xa xa là biển. Biển không hiền hòa như buổi chiều ban nãy, mà giờ đây đang thét gào và dậy sóng. Trời đã đen sẫm, hơi mưa, không khí ẩm mát ùa tới.
“Tôi thường ngồi đây một mình suốt hai tiếng đồng hồ, thậm chí cả buổi chiều. Cách đó không xa có một bãi tha ma, cũng không phải cao cấp gì. Người chôn ở đó đều là dân thường. Chỉ duy nhất có một người không bình thường là thầy giáo dương cầm của tôi. Hồi ông mất, đúng vào dịp người Singapore lại rất ghét người Anh, nên ông không được chôn trong những nghĩa trang cao cấp. Ông đành nằm dưới thảm cỏ kia, thoáng một cái mà nhiều năm đã trôi qua rồi.”
Ông ta quay đầu lại nhìn tôi, ánh mắt rất sáng. Tôi không biết đó là do ánh nến chiếu vào hay là tại nước mắt ứa ra. Gió biển ngoài cửa sổ ùa vào, khiến ánh nến bị biến dạng. Ông lại hỏi:
“Em có muốn đi một vòng quanh ngôi nhà này không? Có phòng tắm, phòng ngủ, ban công, trên lầu cũng có phòng nữa.”
Tôi không khỏi so vai, lắc đầu nói: “Em không muốn đi xem đâu. Em thấy rất lạnh, toàn thân lạnh lắm.”
“Vậy em chờ tí nhé.”
Nói xong, ông ta tự chạy lên gác một mình. Cầu thang kêu lên răng rắc. Thực ra tôi muốn nói với ông rằng tôi rất sợ, sợ đến ớn lạnh. Mọi thứ trước mắt quả thật có phần giống như một di vật, ngay cả điện cũng không có, như thể thời gian bị tụt hậu tới một trăm năm. Tôi run rẩy đi lại, đi về phía cây nến. Nhưng chẳng bao lâu, từ trên gác đã vọng xuống tiếng bước chân của ông ta.
Trên tay ông ta cầm một cái áo khoác, ánh nến loáng qua gương mặt ông ta như một cơn gió thoảng khẽ. Ông ta tận tay choàng tấm áo lên người tôi. Không biết tại sao, tôi rất sợ ông ta lại nhắc tới ông già đã chết. Nhưng chỉ nghe thấy ông ta nói:
“Hay là chúng ta ngồi xuống ghế một lát. Singapore rất sạch, ít khi bụi vào nhà lắm”.
Tôi cùng ông ta đi về phía ghế sô pha. Lúc này tiếng nói mà tôi sợ nghe thấy nhất lại vang lên. Ông nói tiếp:
“Tại sao tới giờ này, tôi vẫn rất nhớ ông thầy giáo người Anh nhỉ? Hồi đó tôi thực sự nghèo lắm, chỉ có mỗi căn nhà mà ông ta tặng tôi. Trước khi chết, thầy tôi đã viết sẵn di chúc, nói rằng tài sản của căn nhà này không thuộc về ai, chỉ thuộc về học sinh Úc Kính Nhất của thầy. Nhưng để mai táng thầy, để mua được một khoanh đất ở nghĩa trang, và để việc đi tạo dựng quan hệ ra, tôi phải bán căn nhà này. Tôi nghĩ dù sao đi nữa cũng phải làm cho thầy một đám tang tử tế. Nhưng hồi đó đăng báo rao bán mãi, vẫn không bán nổi căn nhà này. Thế là thầy đành chịu oan uổng phải ở đây cùng đám dân nghèo.
Tôi nói thật ra ở cùng người nghèo sẽ rất vui vẻ.
“Không sai, có lúc tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng nếu em ở cùng với người nghèo và người không có giáo dục, em có vui sướng không?”
Ánh mắt ông ta như ép tôi, khiến tôi không khỏi né tránh, cảm thấy mình thực sự xuẩn ngốc. Thân hình nặng nề của ông ấy ngồi lún trên ghế sô pha.
“Những năm tháng qua, không chỉ một lần, tôi định dời mộ ông ấy đi nhưng lại sợ làm kinh động tới người chết. Bao nhiêu năm qua rồi, có lẽ ông ấy cũng quen rồi.”
Tiếng ông ta nhỏ dần, phảng phất như một lời than vãn. Tôi cẩn thận ngồi trên ghế sô pha trước mặt ông ấy, hỏi: “Vậy ông còn bán căn nhà không?”
Ông ta lắc đầu nói: “Thôi.”
“Tại sao? Nó cũng không có tác dụng gì lớn đối với ông mà.”
“Tôi vẫn không muốn kinh động đến người chết. Tới cái tuổi của tôi bây giờ, tôi đã hiểu ra một điều rằng, thật ra đối với một con người, tang lễ ra sao không quan trọng. Mà quan trọng nhất là những thứ có được về vật chất và tinh thần khi có được lúc sinh thời vẫn không ngừng được gìn giữ.”
Khi ông ta nói đến đây, qua ánh nến, tôi phát hiện thấy ông đang cười. Nụ cười của ông ta khiến tôi nhẹ nhõm hẳn. Ông ta nhìn tôi, tôi cũng nhìn lại, không khỏi nghĩ thầm: “Vậy, ông chết rồi, ai sẽ bảo quản nhỉ?”
Tôi không nói ra lời, chỉ nhìn sang hướng khác, nhìn xuống dưới. Một lúc sau, ông ta lại hỏi tôi đang nghĩ gì. Tôi đáp, không nghĩ gì.
“Tôi biết em đang nghĩ gì rồi”, ông nói.
Tôi ngẩng đầu lên, chỉ thấy ông cười tươi hơn.
“Chắc chắn em đang nghĩ rằng, sau khi tôi chết đi, căn nhà này rốt cuộc sẽ thuộc về ai?”
Tôi hốt hoảng lắc đầu nhưng nhận thấy rõ mặt mình đỏ bừng. Ông ta nói tiếp: “Thật ra, đây là vấn đề khó khăn nhất của tôi. Bà vợ bên Anh và ba đứa con trai đã coi tôi như kẻ thù vì tôi phải lòng một người phụ nữ khác. Đó là một bác sĩ. Người quen thuộc tôi đều biết quá khứ của tôi. Em có nhớ buổi tối Noel lần đầu chúng ta gặp nhau không?”
Tôi gật đầu.
“Em có biết tại sao khi vừa nhắc đến tay tôi, mọi người đều hốt hoảng không?”
Ông với bao thuốc lá dưới bàn, rồi đi loanh quanh tìm diêm. Tôi lại nhìn thấy ngón tay của ông bị ánh nến rọi vào ngả vàng. Những ngón tay dài thanh tú như phụ nữ ngoài việc đụng chạm những phím đàn còn đụng chạm với dạng phụ nữ thế nào nhỉ? Đợi khi rít xong một hơi thuốc, ông nói tiếp:
“Kể ra thì chuyện rất đơn giản. Năm ba mươi tuổi, ngón tay tôi chơi đàn nhiều nên bị tật, vợ tôi kêu tôi chuyển ngành, đừng đàn nữa. Nhưng với tôi, điều đó là không thể. Sau đó, tôi đi bệnh viện và quen cô bác sĩ nọ. Cô ấy nói có thể chữa khỏi cho tôi. Rồi chúng tôi yêu nhau. Cô ấy là người phụ nữ rất quan trọng trong đời tôi. Khi tôi ly hôn, muốn lấy cô ấy, người chồng cũ đã ly thân nhiều năm với cô ấy lại quay về. Thế là tan tành. Tay cũng chưa chữa khỏi. Hôn nhân, tình cảm đều thất bại. Điều này tượng trưng cho sự thất bại cả đời tôi. Chuyện này hầu như ai cũng biết. Tất cả mọi người đều né tránh. Mọi người đều biết rằng đây là đề tài cấm kị của tôi. Nhưng đêm Noel đó, trước mặt bao nhiêu người như vậy, em lại nói rằng tay tôi bị tật nên khi đàn mới hay được như vậy. Em có biết mình đã thất lễ thế nào không?”
Tôi vội vã nói: “Xin lỗi, thật đấy, em vô cùng xin lỗi ông.”
“…. Sau đó lại có một cô gái giống em, cũng đến từ Trung Quốc, tên là Trịnh Lâm. Nhưng cô ấy không giống em, cô ấy là một nhà văn, rất nổi tiếng. Mấy năm trước sau khi xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cô ấy đã trở thành một nhà văn hóa ở Anh. Thật ra phía sau cô ấy và xuất thân của cô ấy khác em lắm. Cô ấy đến từ một gia tộc rất cổ điển của Trung Quốc, còn em là một cô gái thuộc phần tử trí thức bình thường.”
Tôi ngẩng đầu lên nhìn ông ta. Hình như ông ta có vẻ quá thẳng thắn, không hề giữ gìn. Có lẽ cũng nhận ra điều gì không ổn, ông ta liên tục phân bua:
“Thôi, đi xa quá rồi. Giờ đây tôi có thể trả lời câu hỏi của em. Tôi muốn giữ lại ngôi nhà này.”
“Giữ lại ư?”
“Giờ đây, tôi thấy mình rất cô độc, muốn lấy một người phụ nữ mà tôi ưng. Tôi hy vọng cô ấy sẽ dịu dàng, lương thiện, có thể chăm sóc tôi sau khi tôi về già, và sống trong chính ngôi nhà này.”
Tôi ngần ngừ, thử nhìn ông ta thăm dò: “Nhưng ngôi nhà năm đã nhiều năm không được tu sửa?”
“Tôi có khả năng sửa ngôi nhà này trở nên huy hoàng lấp lánh, có khả năng khiến nữ chủ nhân của ngôi nhà này cảm thấy hạnh phúc.” Tôi không biết có phải ông ta đang nhìn tôi không, nhưng tôi không đủ dũng cảm nhìn ông ấy. Lúc này, tôi đành nhìn về phía bức tường phía sau ông ấy, hoặc nhìn ra cửa sổ mé trái, nhìn loanh quanh lên bàn uống nước trước mặt, rồi lại cúi thấp đầu, nhìn xuống sàn. Dưới ánh nến, giờ đây tôi mới phát hiện thấy thảm có màu lam sẫm, nhưng nó đã rất cũ, rất cũ rồi.
Chỉ nghe thấy ông ta nói: “Sao tự nhiên thèm rượu thế? Em ngồi đây nhé, tôi xuống hầm rượu bên dưới xem còn thừa thứ gì không?”
Nói rồi, ông dụi ngay ngay điếu thuốc trên tay, vươn người đứng dậy đi vài bước. Tôi nghĩ bụng, hầm rượu à? Ông ta còn có hầm rượu sao? Tôi đứng dậy, vội nói: “Ông Úc, ông có thể cho em cùng xuống đó không?”
Ông ta dừng bước, quay người lại.
Tôi nói ở lại đây một mình sẽ rất sợ. Ông ấy gật đầu, dịu dàng nhìn tôi, rồi một tay cầm cây nến vừa châm, một tay khoác vai tôi. Phía cửa sổ sát biển nhé, ở phía trái có một lối đi, bên trên vẫn phủ thảm màu xanh sẫm. Thảm được phủ kín ra tận đầu. Cánh cửa gỗ nặng trịch. Ông ta rút tay ra khỏi vai tôi, đưa cây nến cho tôi cầm rồi móc chìa khóa ở thắt lưng ra, lần mò định mở, nhưng phát hiện thấy khóa đã được mở rồi. Ông ta lập tức hốt hoảng, nói: “Lẽ nào đã có ai mở cửa? Không thể được. Tôi còn nhớ mấy năm trước đã khóa kĩ trước khi về Anh mà.”
Khi ông đẩy cửa ra phát ra tiếng động trầm đục như ai đang thở. Chỉ thấy phía trong là cửa cầu thang hẹp. Úc Kính Nhất giơ cây nến lên, một tay đỡ tôi xuống, Tôi đi theo ông từng bậc một. Nhờ ánh nến, tôi nhìn thấy hầm rượu bằng gỗ, có những giá để rượu lớn, trên chất rượu đủ các loại, cái bằng thủy tinh, cái bằng gỗ, cái bằng kim loại. Ông ta đặt nến lên tay tôi, nói: “Không xong rồi, hầm rượu đã có người vào, đã uống trộm rượu. Không sai, đúng như vậy. Lâu rồi Singapore không có trộm. Tôi không nói là không có kẻ trộm, mà nói là không có người vào đây uống trộm. Mới hai năm mà loạn quá.”
Tôi có phần ngượng. Vì hai năm qua, người Trung Quốc đến đây rất nhiều, có phải ông ấy đang ám chỉ người Trung Quốc ăn trộm rượu không? Cũng may tôi là con gái, nếu không cũng nằm trong đối tượng bị tình nghi.
Nhờ ánh nến, tôi ngắm xung quanh, thầm nghĩ, kẻ ăn trộm rượu cũng thật đáng cười. Anh ta có thể mò vào được một biệt thự thế này để thưởng thức cuộc đời, xem ra nhất định là người nghèo. Hay đúng thật là người Trung Quốc nhỉ? Chắc chắn người đó là đàn ông. Phụ nữ không ăn trộm những thứ này. Phụ nữ chỉ ăn trộm chồng của người khác, tuyệt đối không ăn trộm rượu.
“Em đang nghĩ gì vậy?”
“Em đang nghĩ xem kẻ ăn trộm là dạng người gì?”
Ông ta cười, nói: “Đó là một người quân tử đấy. Anh ta uống trộm rượu, nhưng không mang rượu ra ngoài. Hơn nữa, đây không phải là lần đầu anh ta tới đây. Nhưng anh ta rất cẩn thận, cứ như đây là hầm rượu của nhà anh ta vậy. Thật lạ.”
Tôi cũng cười, nói: “Ông thật độ lượng, gặp chuyện như vậy mà không bực mình.”
Ông Úc nói: “Đụng phải những người như vậy, em có bực mình không? Mà em bực với ai? Chỉ có thể vừa bực vừa buồn cười.”
Tôi gật đầu.
“Nhưng có lẽ là thằng con trai đáng chết của tôi.”
“Con trai ông ư?”
“Ừ, một thằng hư hỏng do được nuông chiều thái quá.”
Ông ta tiếp tục quan sát tỉ mỉ và nói: “Hôm nay là ngày tốt, phải khui một chai thôi. Em không thấy hôm nay là ngày tốt sao?”
Hơi xúc động, tôi giơ cao nến và đột ngột nói: “Đúng vậy, hôm nay không chỉ là ngày tốt đối với ông, mà còn là ngày tốt đối với em. Nhưng chẳng mấy chốc, em lại phải rời Singapore rồi. Những ngày tháng tốt lành của ông có thể kéo dài mãi, sẽ không liên quan gì tới em nữa.”
“Tôi đã nói rồi, em là một cô gái rất lạ. Em xem những gì em nói có cực đoan không? Thật ra em có thể bình tĩnh lại. Trong thế giới này, em không chỉ nên nghĩ tới đau khổ, thù hận, buốt giá, mưa gió. Mà trước hết, em phải nghĩ tới có nắng vàng rực rỡ, có lương thiện, có những điều tốt đẹp và tình thân.”
Nói tới đây, ông lại nói: “Nhìn em yếu ớt như vậy, một mình sống ở đây có sợ không?”
Tôi lắc đầu nhưng lòng thầm hỏi: “Tối nay mình ở đây một mình sao?”
“Ngày nào mẹ tôi cũng ở nhà chờ tôi. Có thể do tôi đi ra đời quá sớm. Em thử nghĩ mà xem, năm mười một tuổi, tôi đã sang Anh, rất ít khi sống cùng mẹ. Nên cứ có cơ hội là mẹ ở nhà cả ngày chờ tôi. Bà nhất định phải chờ tôi về nhà mới chịu đi ngủ. Trên đời này, chỉ có tình mẹ mới là vô hạn… Em gượm đã, tôi phải đi lấy một chai rượu. Trên giá cao nhất có một chai màu bạc. Chai đó đã để rất nhiều năm rồi.”
Ông kiễng chân, giơ tay với lên giá, nhưng vẫn không chạm tới chai rượu. Thế là ông đành lấy cái ghế gỗ bên cạnh. Nhưng khi vừa đứng lên ghế, cái chân ghế đã gãy gục. Ông ta chỉ kịp kêu ối một tiếng rồi ngã lăn ra sàn.
Nhưng dù bị ngã, tay ông vẫn cầm chặt chai rượu. Gương mặt ông trông rúm ró vì đau. Tôi sợ quá, hét lên một tiếng, rồi chạy vội tới đỡ ông ta dậy. Nhưng cây nến trong tay bị nghiêng đi, sáp nến nhỏ cả lên tay tôi. Ông ta nằm dưới đất, nói:
“Em cầm lấy rượu trước đã.”
Tôi đỡ chai rượu, đặt nó sang một bên.
“Phải để nó vào chỗ an toàn đã.”
Tôi cười: “Lẽ nào rượu quan trọng hơn vết thương của ông sao?”
Tôi vẫn đặt chai rượu ở cái giá bên cạnh, rồi đặt cây nến xuống, đỡ ông ta dậy. Ông ta nhúc nhắc thử đôi chân, cảm thấy khó đi lại, nhưng vẫn nói:
“Em không cần đỡ tôi. Em cầm nến và rượu đi, tôi có thể đi được.”
“Ông đi được thật không?”
“Em cứ mặc kệ tôi, tôi có thể tự đi được.”
Rồi tôi dần bỏ ông ta ra, chỉ cầm chai rượu và cây nến. Chúng tôi chậm rãi đi về phía cửa. Không biết tại sao tôi thấy hơi sợ. Tôi sợ sau lưng mình đột nhiên mọc ra thứ gì đó kéo tôi lại. Lúc này Úc Kính Nhất đi ở phía trước quay lại nói: “Đúng rồi, sau giá rượu có một kệ để nến và một cái bàn lên. Trên bàn có để một tấm hình. Nếu em tò mò, có thể đi xem. Đó là hình thầy giáo của tôi.”
Toàn thân tôi rùng mình. Quả thực tôi không dám quay đầu lại, nhưng tôi vẫn làm theo lời ông ta. Một tay cầm nến, một tay cầm rượu, liêu xiêu đi tới chỗ ông ta nói. Ông ta lại dặn:
“Em có thể thắp nến lên cái đế nến trên bàn ấy.”
Tôi làm theo, nhưng không thể cho ông ấy thấy rằng tôi đang sợ hãi trước con người mà ông ấy hằng kính trọng. Tôi cúi xuống nhìn tấm hình.
Lúc này trước mặt tôi xuất hiện một hình tượng quí tộc mà tôi đã từng đọc trong một cuốn tiểu thuyết tiếng Anh hồi còn nhỏ. Ông ta mặc đồ Tây, tóc bạc trắng, cằm nhọn, có râu, mắt rất sâu. Nhưng tôi thấy ông ta giống người Pháp.
Úc Kính nhất hỏi: “Nhìn thấy chưa?”
Tôi đáp, đã thấy rồi.
“Vậy em lấy nến ra đi thôi.”
Khi cầm nến lên, tôi xoay người lại, đột nhiên nhìn thấy một khẩu súng đen sì treo trên tường. Ánh sáng trên khẩu súng khiến nó giống hệt mắt của con sói trong bóng đêm. Tôi run lẩy bẩy như bị điện giật. Chai rượu cầm không chặt, rơi xuống sàn vỡ tan. Úc Kính Nhất kêu thất thanh:
“Trời ơi, chai rượu ngon đấy, có chuyện gì thế?”
Mùi rượu thơm nồng xộc lên. Tôi đáp nhìn thấy khẩu súng nên sợ quá.
Ông ta bước tới khó khăn, nhìn rượu vung vãi trên sàn, lại nhìn khẩu súng trên tường, nói:
“Đó chỉ là một khẩu súng săn hai nòng, em sợ cái gì?”
Toàn thân tôi vẫn run lẩy bẩy. Tôi đáp: “Xin lỗi, em chưa bao giờ nhìn thấy súng thật.”
Nom ông ta đắc ý hẳn.
“Đó là hồi ở đây hệ thống pháp luật còn không đầy đủ. Tôi mang trộm khẩu súng này từ Anh sang, không ai biết. Cũng nhiều năm rồi, tôi không dùng nó. Một khẩu súng đã khiến em sợ đến thế này, bao nhiêu rượu ngon bị đổ hết rồi. Đi thôi, em ra giá để rượu, lấy một chai tùy thích.”
Related Posts
No related posts.




