Người con gái đói khát (30)

Tác giả: Hồng Ảnh
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi
Dịch theo nguyên tác bản tiếng Hoa “Cơ Ngã Nữ Nhi”
Nhà xuất bản Ly Giang, 2001
4
Sau khi nước lũ rút hết, bãi cát bên sông lại dài và rộng rãi, trong đám bùn lẫn cả sỏi vụn, mặt đất còn vướng cả những dây thép. Tảng đá lớn bì sóng đánh dữ dội thấy cả hằn tích mệt mỏi, giận dữ đứng giữa dòng sông. Khi nước dâng, nó trở thành tảng đá lớn che chở cho đám thủy thủ nhát gan, khi nước rút, nó lại trở thành hòn đảo nhỏ hình con rùa.
Cứ vào mùa hè hằng năm, những người ở xa và gần đều tới bãi đá khá bằng phẳng bên bờ sông để tắm táp. Chúng tôi không nói để bơi lội, mà là tắm táp. Người xuống sông tắm, lật qua trở lại làn da thịt nổi lên hoặc bẹt xuống, lay động nghịch ngợm cùng làn nước. Đám trẻ con gày gò chơi trò đánh trận nước, bắn đạn cát, cởi truồng nồng nỗng. Đám thủy thủ trên những con tàu chở hàng dập dềnh, nóng tới phát điên, da thịt đen trũi, nhảy ùm xuống dòng sông vàng khè. Đối với đám người chưa từng biết tới nhà tắm tư nhân như chúng tôi, có nước sông, bất kể là màu gì, dù trở ngại thế nào cũng là hạnh phúc. Nước sông Trường Giang từ cao nguyên đổ xuống, lao thẳng tới vùng trung tâm địa bàn Tứ Xuyên. Khúc sông qua Trùng Khánh, thế nước không cần chảy xiết nữa. Nhưng hè năm nào vẫn có không ít người chết vì hà bá dưới sông lôi đi. Phần lớn là những người dám tắm dưới sông, cũng có người chết do thuyền bè bị lật trên sông, có kẻ lại bị mưu hại vứt xuống sông. Tất nhiên cũng có cả những người tự tử vì đầy oán hận với thế gian này. Chết càng huy hoàng, đi càng oan trái, đều như nhau cả. Dòng sông không từ chối được lấp đầy.
“Nhanh lên, đi xem đánh trận nước”, khắp đường phố, các khu nhà đều vang lên tiếng gọi nhau như tiếng la tiếng trống. Mọi người trên phố vội vã đi dép, bưng theo cả bát cơm, chạy về hướng bờ sông.
Xem xác chết là một trong số niềm vui hiếm hoi trong cuộc sống khắc nghiệt ngày lại ngày của người dân bờ Nam. Dưới bãi đá hình viên đạn có một xưởng mộc. Nước sông ở đó ấm hơn. Xác chết bị dính sơn, màu sắc trở nên quái lạ, phù lên như một khúc gỗ, rất khó nhận ra kẻ chết trôi là ai. Quần áo của những người xấu số này đã bị nước cuốn phăng đi từ lâu, hoặc còn lại trên người cũng chỉ là một khúc nào đó. Dù cơ thể gần như trần trụi, vẫn khó có thể phân biệt nam nữ. Chỉ có điều nếu trong số đám người vây tới xem có người thân hoặc kẻ thù, thì gương mặt người chết đã tím tái kia lập tức ào máu tươi từ thất khiếu.
Thật đáng tiếc, khả năng kẻ bị chết đuối “nhận người thân và kẻ thù” không cao. Phần lớn xác chết trôi dạt từ mấy trăm dặm tới, nếu không mắc ở bờ sông bẩn thỉu này, sẽ tiếp tục trôi thêm mấy trăm mấy ngàn dặm nữa, càng rời xa quê nhà. Nhưng khi họ trôi dạt vào bờ, trong vòng bảy ngày bị chết chìm, chỉ còn duy trì một đặc trưng cuối cùng về giới tính: đó là cái của nữ giới luôn ngẩng lên, cái của nam giới luôn rũ xuống. Sau khi tôi bắt đầu hiểu hơn về chuyện nam nữ, mỗi lần nhớ tới những kẻ bất hạnh này, tim tôi không khỏi đập mạnh: nước sông biến da thịt họ trở nên nát rữa như vậy, không phải là ôm ấp họ sao? Vuốt ve họ lần cuối cùng, là sự vuốt ve tình ái?
Trong phòng làm việc của giáo viên trên lầu hai, tôi cảm thấy sắc trời xanh nhạt trong màu tím của bóng đêm, hơi nóng màu trắng còn đọng lại. Tiếng ếch nhái ở bờ ruộng quanh đó kêu vang, khua lũ côn trùng bò ra khỏi các lùm cây, bắt đầu điệu vũ hoa cả mắt.
Khi lần đầu tiên nói chuyện với thầy Sử, tôi thấy rất vui. Thầy uống trà lắng nghe và không ngừng him him mắt nhìn tôi.
Anh Ba đứng trong đám đông người tắm bên bờ sông, người vừa gầy vừa đen. Mẹ luôn rên rẩm anh Ba: “Mày muốn mất mạng hay sao? Tao còn cần cái mạng của mày”. Nhưng tai anh Ba không để tâm, lẽ nào chú ý tới mẹ nói. Mạng của anh luôn nhẹ nhàng nổi trôi, đùa nghịch tùy tiện, nhưng tôi chưa từng thấy anh bị trầy vi tróc vảy.
Sau lưng anh Ba luôn có hai ba đứa trẻ thò lò mũi xanh. Bất luận anh Ba có để tâm tới chúng hay không, chúng vẫn hất mặt lên, xếch cái lai quần rộng hoác, chân trần chạy theo người anh hùng của chúng.
Khi đứa con gái đầu của chị Cả mới đầy hai tháng tuổi, anh Ba thấy mặt con bé hồng hồng thật đáng yêu, liền nhân lúc chị Cả ngủ say, đã bế trộm nó ra bờ sông. Anh tự buông, mặc cho đứa trẻ tự vùng vẫy trong nước. Chị Cả đột nhiên thất kinh tỉnh dậy, tụt xuống giường, hô hoán kêu la hết trong ngoài nhà, mãi sau mới thấy anh Ba bồng con trở về, quần áo ướt sũng còn nhỏ giọt, đầu còn dính một sợi cỏ ngả vàng. “Nó không cần dạy cũng biết bơi đấy”, anh Ba nói, mặc kệ cơn phẫn nộ của chị Cả.
Mẹ tức tới mức mặt trắng bệch, nhưng vẫn không đánh anh lấy một cái, bữa tối vẫn xới thêm một bát cho anh như thường lệ.
“Giỏi bơi lội lắm vào, sớm muộn sẽ có chuyện”, chị Cả hận mẹ, chửi anh Ba.
Anh Ba trợn mắt nhìn chị Cả, rồi nhún vai, ra khỏi cửa, thoắt một cái đã mất tăm tích, chắc chắn lại xuống sông tắm táp mới về nhà.
“Thằng Ba, quay lại ngay”, mẹ cuống quít gọi. Trên bàn vẫn còn cơm canh. “Thằng đầu chim đó, đúng là đồ vô lương tâm”.
Đôi chân tôi cũng không nghe lời, cứ hướng ra phía ngoài cửa. Mẹ đã nói rõ: “Lục Lục, con không được phép đi theo!”. Mẹ vội vàng thu dọn một túi vải tự mình may, bên trong nhét đầy quần áo để thay và dưa muối, vội vã quay lại xưởng. Mỗi tuần mẹ về một lần, không quên dậy dỗ tôi một chập: tuyệt đối không được xuống sông tắm, một mình càng không được đi, tới bờ sông chơi cũng không được. Trong nước sẽ thò lên một cánh tay, lôi tuột đi mất. Nước cũng không phân biệt người tôi, lại càng thích bắt trẻ con.
Từ khi tôi biết nghe lời, biết đi lại, mẹ không ngừng đe dọa về mối nguy hiểm từ nước. Tôi là một đứa con gái của một thủy thủ, lớn lên bên bờ sông, thế nhưng chưa từng học bơi lội. Đám con trai con gái trên bờ không ai là không giỏi bơi lội. Còn tôi cũng là một đứa từ trước tới giờ không chịu nghe lời, nhất định không chịu nghe lời mẹ rằng không được phép xuống nước.
Tôi rất sợ sang sông, một nỗi sợ khó nói thành lời. Nhất là những ngày lễ tết, người đông, như đám gia súc dồn đống lại. Trong tàu có áo phao, thuyền lật chỉ trong chớp mắt, ai có thể cướp kịp áo phao cơ chứ? Có lần, tôi xuống núi chuẩn bị sang sông, nhìn thấy thuyền lật ở giữa dòng sông: khắp sông là những cái đầu đen thui, như quả bóng da trôi nổi trên dòng sông giận dữ, quả chìm quả nổi, khiến tôi sợ quá, ngồi phịch xuống đường.
Thầy giáo Sử không giống như thường ngày, nghe tôi kể lại chê cười tôi sợ nước, không dám bơi. Thầy nói, bơi rất đơn giản. Con gái học bơi ếch rất đẹp, nói xong thầy đứng dậy, đi về phía tôi. Thầy đi quanh tôi nửa vòng, rồi từ sau lưng, thầy chụp lấy hai vai tôi, làn da tôi nóng rực. Tay thầy vừa to vừa ấm, rất mạnh mẽ. Thầy giơ hai tay tôi vươn ra phía trước, cùng khoát tay với thầy. Sắc mặt thầy vẫn bình thản, ngay cả khi thầy kề sát vào lưng tôi, tôi cũng không có cảm giác thầy có ý gì xấu.
Đột nhiên sau khi hiểu ra, mặt tôi chợt đỏ bừng, tôi tức giận giật mạnh tay thầy, lùi lại sau một bước.
Thầy nghiêm mặt, nói, Em không muốn học thì thôi vậy.
Trong phòng thật yên tĩnh, tôi cảm thấy có chuyện gì sắp xảy ra. Đợi mấy giây sau, cũng không thấy có gì. Tôi thấy mình thật ngốc, liền đi ra cửa.
“Không ở lại thêm sao?”
“Không ạ”, tôi nói vừa đi ra tới cửa, với tay lấy nắm khóa cửa, “Em đóng cửa lại nhé”.
“Không cần đâu”, thầy vẫn đứng chỗ cũ.
Xốc chiếc dây quai cặp sách, tôi quay người lại, gắng mỉm cười. Thầy vẫn đứng im, chăm chú nhìn tôi, “Muốn tới thì tới, có cần tôi tiễn không?”, thầy hỏi.
“Không”, tôi nói xong, thở dài một tiếng, như muốn trút sạch u uất trong lòng.
Ra khỏi tòa nhà khá xa, mắt tôi ngập nước. Hẳn thầy không thích tôi tí nào, có thể thầy cố tình đùa giỡn tôi, giống như loại đàn ông trong tiểu thuyết, thích lừa phụ nữ vào tròng, rồi bỏ họ.
Thầy chính là loại đàn ông như vậy. Trên đường về nhà, tôi hận thầy vô cùng, quyết định từ nay về sau mặc kệ thầy. Nhưng buổi tối khi nằm trên giường, tôi không khỏi nhớ tới thầy. Tôi không hiểu tại sao mình phải bỏ chạy? Là tôi không đúng. Tôi vuốt ve gương mặt mình, tưởng tượng ra cánh tay thầy, trượt xuống đôi môi, cái cổ, dịch xuống phía dưới, tay tôi đã thọc sâu vào áo lót, chạm phải bầu ngực của chính mình. Cảm giác như điện giật, như lại bị hút vào, tiếp tục thọc sâu vào phần dưới cơ thể. Một cảm giác chưa từng có lan truyền khắp cơ thể. Tôi nhắm mắt lại.
Suốt cả ngày, tôi nỗ lực cự tuyệt nhớ lại cảnh cùng ở bên thầy, không hề nhớ tới thầy lấy một phút. Bóng đêm bao trùm, vạn vật yên tĩnh, hình ảnh thầy giáo Sử lại càng hiện rõ trong đầu tôi.
Nếu lúc đó cánh tay thầy ghì siết lấy tôi, tôi sẽ ra sao nhỉ? Chống cự hay phục tùng đây?
Gương mặt tôi đỏ bừng, tay lắng nghe tiếng chuột chạy trên khe mái. Ngoài cửa sổ vọng lại tiếng trẻ con nhà nào khóc thật oan ức. Một hồi lâu, có tiếng người ho hắng. Tôi rón rén ngồi dậy, tiếng ho dừng lại, nhưng vừa nằm xuống, tiếng ho lại vang lên, như cố tình không để tôi ngủ.
Trong khu nhà có một quan tài bằng gỗ cây long não vừa nặng vừa lớn. Đó là của bác Trình đầu trọc hàng xóm đối diện nhà tôi làm sẵn cho bà mẹ, mất cả một kỳ nghỉ dài của bác ấy. Cỗ quan tài còn nhiều tuổi hơn cả tôi. Khi tôi còn bò lổm ngổm trên đất, nó đã được kê sát một mé tường, lạnh lùng nằm đó, được phủ lên trên một tấm ni lông nho nhỏ. Bên trong nhét đầy những hộp cũ kĩ, không biết ai còn giấu cả một con gà mái không đẻ được trứng vào trong, ngủ một phát đã tới mấy tuần, làm bác Trình cứ đứng bên giếng trời, vặn lưng dậm chân bành bạch mà chửi bố chửi mẹ. Chủ nhân của con gà sợ phạm phải quan tài sẽ gặp phải vận xui, nhưng cũng cố nghênh đầu lên chửi bới lại, như thể con gà của ông ta bị oan uổng.
Bác Trình đầu trọc vốn làm thuê trên tàu. Khi tàu dừng ở bờ Bắc sửa chữa, bác nghỉ phép về nhà. Sáng sớm đã đánh thái cực quyền, buổi tối kéo nhị hồ nhưng đều ở trình độ rất thấp. Bác vuốt ve cái đầu trọc, không đợi tóc mọc ra đã dùng dao cạo trụi. Mỗi lần từ tàu về nhà, chưa kịp tới cửa, bác đã kêu ầm lên “Mẹ ơi, mẹ”, rồi chạy thẳng vào tới khi gặp được mẹ mình mới dừng lại. Bố bác đã chết khi Trùng Khánh bị Nhật ném bom. Năm đó mẹ bác mới ba mươi tuổi, không tái hôn, hai bàn chân bó chỉ có ba tấc, nhưng dám một mình một thuyền đánh cá trên sông, nuôi bác khôn lớn thành người. Bây giờ mẹ bác đã bảy, tám chục tuổi, người bệnh tật, lúc nào cũng nằm trong nhà.
Hai vợ chồng không hợp nhau, ra ngoài ăn tiệm là chuyện thường như cơm bữa. Nhưng tình cảnh nhà bác có phần hơi đặc biệt. Bác quá hiếu thuận, tới nửa đêm cũng bò ra khỏi giường vợ, chạy tới bên giường mẹ, giúp mẹ dém lại chăn, sợ mẹ bị lạnh. Sau đó vợ bác không chịu nổi, tức giận chuyển tới sống trong kí túc xá của xưởng dệt. Người trong khu chỉ cần nghe thấy tiếng gọi “Mẹ ơi, mẹ ơi”, đã lên trước đùa: “Chà, cậu con hiếu tử đã về rồi”. Bác chỉ cười hi hi, gật đầu chào.
Cái quan tài được đóng chặt, gà mẹ bên trong không chết ngạt mới là chuyện lạ. Thời cách mạng văn hóa, bác Trình đầu trọc từng làm ở đội tuyên truyền, từng tới Bắc Kinh, tham gia những trải nghiệm tiên tiến, sau khi trở về, bác trở thành người được gặp gỡ sự đời nhiều nhất trong khu nhà chúng tôi. Mấy năm qua, bác đem quan tài chở về nhà, đặt trên gác nửa đóng nửa hở. Trong gian thờ dán đầy ngữ lục, chữ hiếu và tranh về các lãnh tụ vĩ đại. Mới sáng sớm, bác đã báo cáo tình hình cho lãnh tụ vĩ đại. Không ai dám không tới. Tôi không biết hát, giọng rất sắc và yếu.
Trừ bữa tối còn tạm được, nhà nghèo thường ăn uống rất tiết kiệm, tới Tết cũng có đồ ăn ngon, sen hầm xương, lạc rang, đặc biệt là món sợi củ cải, bên trên rưới một ít ớt cat thơm phưng phức mà ngày thường thật hiếm hoi. Nhưng mẹ mặc kệ chúng tôi thèm khát ra sao, đều không để chúng tôi được ăn trước, lại đuổi hết chúng tôi ra khỏi phòng, bắt đứng ở giếng trời hoặc gian thời lạnh cóng. Một mình mẹ trong phòng, không biết làm gì, không biết miệng và lòng cầu khấn gì. Mẹ nói nếu không làm vậy, tổ tiên sẽ không vui.
“Tổ tiên đều không còn nữa, ai biết được cơ chứ?”. Tôi không biết trước sau, cứ nói bừa, trong khi các anh chị đều im thin thít.
“Nói bậy, lúc này tổ tiên đang đứng ngay cạnh chúng ta đấy”, mẹ lườm tôi một cái.
Đợi đến khi cả nhà có thể ngồi quây quần bên bàn, mẹ chỉ vào bát đũa trên bàn, nói: “Các con xem, lúc nãy đũa hướng ra bên ngoài, bây giờ đầu đã quay vào trong, tổ tiên đã tới rồi”.
“Đúng là đã tới”, chị Tư phụ họa.
“Lục Lục, con cầm đũa không chịu sửa gì cả”, mẹ chặn tôi lại. Tôi đang giơ đũa lên, không biết như thế nào mới phải.
“Con xem, đũa không thể được giơ cao quá đầu. Nếu không, sau này con sẽ bỏ nhà ra đi, không bao giờ trở lại nữa. Con cầm gần vào, như vậy mới có thể ở gần bố mẹ mãi mãi”.
Tay tôi di chuyển vào tới phần giữa chiếc đũa.
“Không được, như vậy vẫn không đúng. Tai con vểnh hết ra ngoài hay sao thế? Không bao giờ chịu nghe mẹ nói. Không được tách đũa ra, tách đũa hẳn ra như vậy, con sẽ không bao giờ giữ được tiền, cả đời sẽ nghèo khổ. Như thế này, mới giữ được tiền, ngón tay cái và ngón trỏ đè lên. Nhìn con kìa, dậy cũng không xong. Được rồi. Hôm nay con cứ ăn cơm đi, mai làm lại cho mẹ xem”.
Anh chị tôi bưng bát cơm, vùi đầu vào ăn, như không nghe thấy, không nhìn thấy gì.
Vừa tới tiết thanh minh, có lúc bố đi một mình, có lúc mang theo tôi và anh Năm tới sườn núi đào rau thanh minh. Cẩn thận nhổ, giữ nguyên rễ. Bố nói như vậy sang năm chúng tôi vẫn có thể nhổ được. Mấy năm qua đói kém, ăn cả rễ cây, tới ngày nay, rau dại càng ngày càng khó tìm.
Loài rau dại này rất kì lạ, chỉ tươi mơn mởn vào trước tiết thanh minh. Qua tiết này, rau trở nên già nua, dù những giọt sương ban mai còn lóng lánh lăn trên lá rau, cũng như vậy, y hệt số mệnh của người phụ nữ. Lá rau không to lắm, cũng không rộng, có một lớp lông trắng mỏng mảnh, từng sợi bé tí. Sau khi dùng nước sạch rửa, thái nhỏ, bỏ vào chỗ bột mỳ đã quấy sẵn, dùng tay đánh đều, múc vào nồi sắt dùng để xào rau. Đợi sau khi nồi cạn nước, đậy vung lại, lăn nồi trên bếp. Rau thanh minh có mùi rất thơm, dinh dính vào nhau, có một cái tên rất hay là: bánh thanh minh.
Bố dặn chúng tôi khi ăn bánh thanh minh không được nói chuyện. Vẻ nghiêm khắc của bố khác với khi mẹ cúng tổ tiên, có điều gì đó khiến chúng tôi sợ hãi. Bố rời quê hương Triết Giang đã lâu, trong chiến tranh liên miên, trong cuộc hành quân giữa cái sống và cái chết, gặp được họ hàng mới biết bố mẹ đã sớm qua đời. Linh hồn của tổ tiên ông đã rời xa quá lâu, không dễ gì bay tới bên ông con trai tha phương.
Related Posts
No related posts.




