Người con gái đói khát (35)

13 Tháng 11
Tháng 11-13-2009 Post by LệChi  
Chuyên mục: Truyện dịch


 Tác giả: Hồng Ảnh
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi
Dịch theo nguyên tác bản tiếng Hoa “Cơ Ngã Nữ Nhi”
Nhà xuất bản Ly Giang, 2001

4

        Khi tôi đang ngớ ngẩn đứng đợi ngoài cổng khám của bệnh viện Nhân dân thứ năm, cả nhà tôi rối như tơ vò. Ngay cả bố tôi rất hiếm khi lên gác cũng đang ở trên gác, còn có cả chị Hai, anh Ba. Họ đang cho chị Tư uống thuốc, uống nước đậu xanh, đổ từng cốc nước một.

        Chị Tư nuốt xong thuốc, bụng cũng đỡ hơn. Chị cứ ngỡ rằng thuốc diệt trùng có độc, nếu uống vài hớp sẽ chết. Khi chị mở mắt, cương quyết cự tuyệt đi bệnh viện. Tay chị nắm chặt đầu giường tới vỡ ra. Anh Ba phải nhận lời với chị không đưa đi bệnh viện, chị mới chịu thả tay.

        Bố phát hiện ra một tiếng kêu vang rồi vật gì khá nặng rơi xuống sàn. Đó là tiếng lọ thuốc rơi xuống, tiếp đó là mùi thuốc từ lọ xộc lên, rơi xuống gác qua khe sàn.

        Nhất định sau khi tôi đi, chị Tư đã lôi chỗ thuốc độc đã chuẩn bị sẵn, không biết giấu ở góc nào. Chị nằm trên giường của chị ấy, nghĩ lung tung, rồi cuối cùng không chịu nghĩ gì nữa, quyết định uống thuốc đó để ra đi vĩnh viễn.

        Trong nhà tôi, chị Tư là người đẹp nhất, khác hẳn với thô thiển của chị Cả. Chị Tư có đôi lông mày thanh tú, không cần tô vẽ vẫn đậm nhạt rõ ràng, lông my và đôi mắt chị hớp hồn nhất, bầu ngực vươn cao, chị để mái tóc ngắn hỉ nhi. Thời gian này, trên phố có một số người chưa từng đàm tếu về chuyện nhà tôi, cũng luôn tán vui với bố tôi rằng: con Tư nhà ông đúng là sau một đêm đã thành người lớn rồi.

        Mẹ không chỉ nói với bố một lần: Đừng thấy con Tư dung mạo xinh đẹp, tôi chỉ sợ đời nó khổ nhất.

        Trong lòng mẹ hiểu rõ con gái nhà nghèo mà xinh đẹp, phận mỏng mà thôi. Nhưng chị Tư xảy ra chuyện sớm như vậy vẫn khiến mẹ thất kinh. Chị Tư và Đức Hoa yêu nhau đã nhiều năm, vốn là thanh niên xuống cùng một thôn, chưa lấy nhau vì sợ sau này không thể quay về thành phố. Họ đã thề non hẹn biển, quyết không đổi lòng, sau khi về lại thành phố mới lấy nhau. Những người tìm được cách, đi cửa sau, luồn lọt quan hệ đều lần lượt rời khỏi nông thôn. Trong thôn chỉ còn lại dăm thanh niên. Năm 1978, Đức Hoa không về được thành phố đã suy tính rất thực tế: có thể chị Tư cả đời dùng hộ khẩu nông thôn, số mệnh đã định sẵn là một bà nông dân, như vậy cả đời sau của anh ta sẽ phải chịu nghèo chịu khổ. Trong khi cô bạn học-con gái bí thư chi bộ Xưởng-bắt đầu theo đuổi anh ta. Cuộc hôn nhân này có thể làm thay đổi tất cả. Không chừng anh còn được cất nhắc lên làm cán bộ, không phải làm công nhân nữa.

        Trừ mọi người trong nhà tôi, không ai cho rằng anh ta làm vậy là vô lí. Thậm chí tình yêu cũng chỉ là một trò cười trước hộ khẩu. Chị Tư viết một lá thư rất dày gửi gia đình, cầu xin mẹ tôi nghĩ mọi cách giúp chị rời nông thôn. Nếu không, chị chỉ còn cách lấy nông dân ở đây.

        Đương nhiên là mẹ tôi không có cách. Bà không những không quen biết, lại không tỏ đường đi lối lại, càng không có tiền bạc để kéo quan hệ. Mẹ chỉ biết khóc than, sốt ruột, oán trách mình, hận không thể đánh đổi tính mạng mình để chị Tư có thể về lại thành phố.

        Chị Tư biết Đức Hoa đã bắt đầu thay lòng đổi dạ, càng sốt ruột nhưng không tìm được cách nào. Chị chỉ có một trái tim, mắc lại ở Trùng Khánh không chịu về. Mãi cho đến khi Đức Hoa hứa đoạn tuyệt quan hệ với cô bạn học, chị mới quay về nông thôn nghĩ cách. Trước khi quay về nông thôn, một người quen nhà hàng xóm tới chơi. Lúc đó chị Tư có kể chuyện, rồi nhịn không được khóc ầm lên. Người đó động lòng, hỏi chị Tư có chịu làm công nhân gách than trong một đơn vị hợp tác ở gần đó không. Không chút suy nghĩ, chị Tư nhận lời.

        Chị Tư đi theo con đường của mẹ, trở thành công nhân chuyển cát gạch. Mẹ được gọi là công nhân thời vụ, chị là công nhân hợp đồng. Ngày nào trở về nhà, cả người chị đều đầm đìa mồ hôi, không ai thèm để tâm. Giữa tôi và chị, nói chuyện cũng thưa dần.

        Chỗ Đức Hoa đi làm cách nhà tôi cũng không xa. Anh ta nom nho nhã thư sinh, trắng trẻo, thậm chí hơi ngốc. Lần đầu tiên gặp Đức Hoa, tôi cứ ngỡ anh chính là loại thư sinh trong các tiểu thuyết cổ điển vẫn nhắc tới.

        Anh tới nhà tôi, luôn giành làm việc nội trợ như gánh nước, nhặt rau, làm cơm, rửa bát, cũng rất lễ phép. Nhưng mẹ vẫn nhớ chuyện anh ăn ở hai lòng với chị Tư nên không thích anh. Ông bố ít nói của tôi đối với Đức Hoa cũng lạh nhạt. Bố cho rằng anh quá nữ tính, mệnh sẽ không thuận. Trời vừa sụp tối, bố đã đứng ở sảnh nói vọng lên gác rằng, đường đi khó khăn, trời lại tối rồi. Rõ ràng như hạ lệnh tiễn khách. Song mọi ám chỉ hoặc mệnh lệnh của bố mẹ đều không có tác dụng. Chị Tư cương quyết lôi Đức Hoa vào ở trong nhà chúng tôi bằng được. Chị chỉ có cách đó để ép anh thực hiện lừa hứa sẽ lấy chị.

        Ba chúng tôi, tôi, chị và Đức Hoa cùng ở trên gác. Chị Tư đi làm sớm tối về muộn, mỗi lần đi và về đều phải qua sông, phải đổi hai lượt xe. Để tránh hai bọn họ, tôi thường ra phố đọc sách dưới ánh đèn đường vòng vọt, tới nửa đêm mới về. Cứ như vậy, mắt tôi vốn đã cận thị, giờ số độ càng tăng vọt. Phòng quá nhỏ, tiếng họ làm tình luôn đánh thức tôi tỉnh giấc. Tôi gắng nín hơi không lên tiếng, mắt nhắm nghiền, giả vờ ngủ say. Đôi khi, tôi tụt khỏi giường, mò xuống sảnh ngồi đờ đẫn.

        Hai cái giường chỉ cách nhau một tấm rèm vải, họ không có cách nào tránh tôi được. Trong nhà một khi có thêm người, ở trong phòng lại càng không thể làm bất cứ chuyện gì. Cũng không thể tới bờ sông hoặc lên núi, họ không có đăng kí kết hôn, nếu bị công an hoặc bảo vệ trị an bắt, sẽ nhục mạ một trận, còn thông báo ngay cho lãnh đạp đơn vị, viết kiểm điểm. Ở một thành phố lớn như vậy, nghĩ đi nghĩ lại chỉ có cái rạp chiếu phim rách nát trên núi là có thể yên thân. Nhân lúc chiếu phim tối om, có thể âu yếm nhau một hai tiếng.

        Bố hỏi Đức Hoa: “Anh đi làm vẫn phải đánh giầy sáng loáng như thế sao?”

        “Tới đó sẽ thay giầy khác ạ”, Đức Hoa đáp.

        “Vậy có phải rắc rối không?”

        “Không ạ, không ạ”, Đức Hoa đáp, rồi đi thẳng ra cổng, bỏ luôn bữa sáng không ăn. Bố nói với mẹ vừa về nhà, Đó là tiết tấu đầu thôi. Bố cho rằng Đứa Hoa vẫn chưa chấm dứt với cô bạn học, e rằng đeo đuổi tới nơi. Lần này nhất định sẽ cắt hẳn với chị Tư. Con người luôn trèo lên, anh ta ắt không cam tâm sống trong căn gác bé xíu nhà chúng tôi.

 

5

        Đức Hoa đang làm việc trong xưởng xe, được người báo, vội về nhà tôi. Anh ta thấy chị Tư tóc tai rối bời, gò má xám trắng, ánh mắt rũ rượi. Cái ống nhổ ở buồng dưới đang đặt cạnh đầu giường chị, trong đó có các vật bẩn và nước, mùi hôi xộc lên. Trừ chị Tư, mọi người trong phòng đều dồn mắt lên người anh ta. Anh không ngờ tới cảnh tượng này, không khỏi hoảng hốt, anh thực sự không có kinh nghiệm. Anh cảm thấy mọi người trong gia đình này hận không thể cắn anh, xé xác anh. Chị Hai gầm gừ với anh, nắm đấm của anh Ba đã giơ lên mấy lần rồi hạ xuống.

        Cảnh tượng này nhanh chóng khiến anh bị khuất phục. Việc chị Tư tự tử đổi được tờ giấy đăng kí kết hôn.

        Mẹ chuẩn bị chăn đệm mới cho chị Tư. Khi chị Tư và Đức Hoa ôm tới nhà mẹ chồng, cô vợ của bác Trình đầu trọc hàng xóm đứng ở sảnh, buông một câu: “Hai đứa sao không hiểu gì cả? Chăn đám cưới có một mặt trắng đưa ra ngoài là không tốt đâu”.

        Lúc đó không ai nói thêm vào, lẽ ra phải đối một câu như “Chăn không tốt, người người tốt”, hoặc “Gió thổi mặt trời rọi chiếu, vận đen sẽ tiêu tan”… đều được cả. Cách tốt nhất là lấy mọt vật gì có thể đập vỡ ở gần đó nhất như bát, chai nước, cốc… Bất kì thứ gì, cứ giơ nó lên đập tan xuống đất để phá giải câu nói vốn không tốt lành kia. Giống như khi ăn cơm bị gãy đũa, phải nói ngay “đũa gãy rơi xuống đất, mua ruộng mua đất”, nói xong mới được cúi xuống nhặt.

        Nhưng trong lúc vội vã, mọi người quên mất lời giáo huấn của bậc trên, không ai nói bất kì câu gì, cũng không chịu đập vỡ thứ gì. Như thể sợ hãi rằng chính lúc đó, cái hung khí mà mắt thường không nhìn thấy được sẽ ứng nghiệm luôn vào người họ.

        Từ sau khi bà mẹ già qua đời, bác Trình đầu trọc không còn đánh thái cực quyền, cũng không kéo nhị hồ nữa. Bác chỉ chăm chú nghiên cứu bát quái và âm dương ngũ hành trong cuốn “từ điển học sinh”. Bác nói với bố tôi rằng mẹ bác chết đột ngột vì vị trí bếp lò trong nhà bác để chưa đúng, lẽ ra không nên hướng về phía nam, vì nó chấn luôn tám chữ sinh thời của mẹ bác.

        Bác tự châm kim vào các mạch máu trên người mình. Khắp cổ, tay, chân, nhất là mu bàn tay, vết châm kim chi chít. Thay đổi kinh mạch có thể trường sinh bất lão. Một khi tức giận có thể nửa tháng liền không cần ăn cơm, “bế quan” vào cảnh tiên. Giờ đây chính phủ qui định người chết phải hỏa táng hết, không ở đâu còn đất để chôn người. Cỗ quan tài mà mẹ bác không có phúc được hưởng bị bác chẻ nhỏ ra thành từng thanh, xếp chồng lên như một trận tiên bát quái. Bác ngồi trong đống gỗ đó mà tu luyện.

        Ở thành phố này, khí độc luôn lẩn quất, trên sông nước dập dờn. Nơi đây lẽ ra là một vùng đất rất hưng thịnh, làm gì có danh đường yêu thuật nào. Tôi không thể xác định được võ công có linh nghiệm hay không, nhưng tôi tin rằng bác Trình đầu trọc quả thực thu được kết quả, nếu không sao suốt nửa tháng không ăn cơm? Nhưng trong ba năm bị nạn đói hoành hành, bố tôi cũng nhịn đói mất bao nhiều ngày một có nổi một bữa cơm đó sao? Xem ra, luyện khí công vẫn có tác dụng.


Related Posts

No related posts.

Gửi bình luận

Bạn có ý kiến gì hãy viết ở đây...
Muốn có Avatar, Xin vào gravatar đăng ký!