Người con gái đói khát (40)

Tác giả: Hồng Ảnh
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi
Dịch theo nguyên tác bản tiếng Hoa “Cơ Ngã Nữ Nhi”
Nhà xuất bản Ly Giang, 2001
3
Chưa tới cuối năm, mắt mẹ đã bị bệnh. Cứ được một lúc phải dùng khăn mùi xoa lau. Nếu không sẽ có dỉ mắt xanh xanh dính ở viền mắt, vừa đau vừa ngứa. “Bệnh này bị khi mang thai các con đấy”, mẹ nói với chúng tôi, “Dù có chuyện gì ghê gớm chăng nữa, khi mang thai, tuyệt đối không được khóc, đừng có giống mẹ, để mắc phải bệnh này chữa mãi không khỏi”.
Giờ đây tôi đã hiểu ra, mẹ muốn nói tới lúc khi mẹ mang thai đi tới nhà giam, trên đường khóc quá thương tâm.
Chị Cả không dám tin rằng mẹ dám tới nhà giam thăm Bao Ca. Về chuyện này, những nghi ngờ của chị đối với mẹ không phải không có lí. Chị là con gái, nhất định nhạy cảm nhất về chuyện này.
“Bố chị chết như vậy sao?”, tôi kéo tay chị Cả. Người đàn ông đó không mấy liên quan tới tôi, nhưng cũng khiến tôi thấy buồn phiền. Tôi nắm tay chị Cả chưa bao giờ chặt đến vậy.
Không ngờ một lúc sau, chị Cả bực tức buông ra một câu khiến tôi ngỡ ngàng: “Ông ấy chết như vậy là tốt lắm rồi”.
Chị nhặt một hòn đá, ngồi lên, lưng quay về phía bờ sông, không đợi tôi hỏi, tự kể tiếp.
Hôm đó là một ngày chủ nhật, đã rất lâu không có tin tức gì về bố đang đi tàu, mẹ ôm anh Ba mới ba tuổi, dắt theo chị Cả qua sông tới công ty tàu của bố dò hỏi. Khi tới đầu cảng, mẹ đổi tay, bế anh Ba sang tay bên phải. Người và xe ở đây hỗn loạn, đường không mưa vẫn trơn chuội. Mẹ với tâm trạng nặng nề không chú ý tới một chiếc xe kéo đang phóng rất nhanh tới. Khi mẹ phát hiện ra, chiếc xe kia đã sắp lao vào trước mặt. Mẹ ôm chặt anh Ba, dạt sang một bên đường để tránh, gào lên với chị Cả đang đứng đờ ra vì sợ chết khiếp: “Chạy may, chạy mau!”. Mẹ nhắm chặt mắt, chị Cả không bị xe đâm chết thì cũng bị thương nặng. Chiếc xe mà lật, người đàn ông đang đánh xe kia không chết cũng bị thương nặng. Nhưng thật thần kì, chiếc xe phanh rít lại, hai bên đều sợ chết giấc, vừa mở miệng đã sững người.
Thì ra đó là chú của Bao Ca. Ông ta gọi tên mẹ liên tục, cuống quýt nói: “Là con phải không? Hai mẹ con làm ta tìm khổ quá!”. Lông mày ông đã bắt đầu bạc, tay áo và gấu quần đều xắn lên, lộ đôi dép cao su dính đầy bùn xám.
Cảnh tượng đó thật kịch tính, nhưng cuộc đời của chị Cả thêm hoặc ít đi một phần trùng hợp cũng không can hệ gì. Tóm lại, mẹ biết được Bao Ca vẫn chưa chết, chưa bị xử lí. Hắn ta bị áp giải ra pháp trường, sợ tới mức són đái són cứt nên khai hết. Hắn khai hết tất cả các mối quan hệ mà hắn biết, nói rằng khi Quốc Dân Đảng đáng hận tới, hắn chẳng qua chỉ là một tên tay sai bị người ta sai khiến. Rốt cục hắn cũng nhận rõ được số phận của chính mình: tay sai sẽ bị vứt bỏ ngay, làm vật hi sinh để dọn dẹp. Vậy tại sao phải khai, khai sung sướng được không?
Hắn bị nhốt trong nhà giam, không chút dày vò. Do hắn khai hết, tất cả những người liên quan tới đều bị bắt gọn. Hắn cứ ngỡ sẽ được thả ra như được hứa. Nhưng chẳng bao lâu, hắn biết mình bị lừa. Họ không những không thả hắn, mà còn bắt hắn tiếp tục khai.
“Tôi đã khai hết rồi”, hắn nói hết lòng hết dạ.
“Chưa, ngươi vẫn phải thực thà khai hết ra”.
Hắn nghe câu nói này không tài nào hiểu nổi, hắn quả thực không sao hiểu được chính sách của Đảng cộng sản.
Đầu tiên hắn bị nhốt trong một gian phòng trong tòa nhà trắng. Tòa nhà trắng và Động thẩm tra vốn là hai nhà giam của Quốc dân đảng bắt giữ các nhân sĩ phản đối nội bộ Đảng và người của Đảng cộng sản. Năm 1943, Sở hợp tác Trung-Mỹ được xây dựng tại đây để thu thập tình báo, bồi dưỡng đặc công. Sau ngày giải phóng, nơi này trở thành giáo trình sống: Đây là tội ác tày trời của đế quốc Mỹ với nhân dân Trung Quốc! Đây là bằng chứng sắt đá minh chứng bọn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch đã giết chết các liệt sĩ của chúng ta. Ngày “27 tháng 11” hàng tháng, trước bia liệt sĩ đều có hàng đoàn người, cờ đỏ sao vàng phấp phới trước ngực, tay nắm chặt nắm đấm, đọc lời thề rền vang. Danh sách liệt sĩ ở đây luôn luôn thay đổi. Thời cách mạng văn hóa xuất hiện không ít liệt sĩ vốn là kẻ phản bội, người của đảng dân chủ phái vào không được coi là liệt sĩ. Sau đó lại nói rằng không có ai phản bội, anh hùng lớn nhất lại bị nói là kẻ phản bội trong thời kì cách mạng văn hóa. Anh ta nhảy lầu tự tử, đầu đập xuống đất, chết luôn tại chỗ. Con mắt bị đập xuống đất nhắm nghiền, con mắt còn lại nở to hơn gấp đôi, như muốn bật ra khỏi tròng mắt. Đó là tấm hình khủng khiếp nhất trong số hình người chết mà tôi nhìn thấy từ nhỏ.
Bao Ca bị đẩy tới đây, nhất định đã rõ rằng, lịch sử vốn thích đùa cợt nhất, giám ngục luôn thay phiên nhau ngồi. Ban ngày, hắn bị súng dí vào đầu, ra sức cào than, chỉ có ban đêm mới nghĩ tới số phận điên đảo lật lọng. Hắn không thể tha thứ cho mình hồi đầu chiêu binh, tức là vừa không phù hợp với qui luật giang hồ, vừa không phù hợp với nguyên tắc làm người của hắn. Hắn bắt đầu ân hận, cũng hiểu ra rằng mọi thứ đã quá muộn.
4
Nhưng mẹ không thể đi thăm Bao Ca lần nữa, vì chẳng bao lâu hắn đã bị chuyển tới vườn hoa nhà họ Tôn ở bờ Nam. Đó chính là nhà giam của tỉnh dành cho các tội phạm nghiêm trọng.
Gặp được ông chú họ của Bao Ca, mẹ lại có liên hệ. Khi nạn đói kết thúc, mẹ mới để chị Cả tới nhà chú họ. Lúc đó chị vẫn đang đi học. Cô gái sau khi Bao Ca lấy làm vợ, sinh được một đứa con gái một đứa con trai, trước năm 1949 có tới nhà cậu em trai của Bao Ca ở Trùng Khánh. Chị Cả gọi người phụ nữ đó là Mẹ Hai, gọi em trai Bao Ca là bố Lực Quang. Họ sống trong một căn nhà lụp xụp trên bến sông, từ khe hở trên sàn có thể nhìn thấy dòng sông Gia Lăng lặng lờ trôi.
Chị Cả nói, gia đình đó sống cũng rất khó khăn. Để sinh tồn, cô em gái cùng cha khác mẹ của chị cũng phải làm cái nghề hèn mọn trong xã hội, ngủ với những người đàn ông không quen biết.
Tôi nói, Làm điếm.
“Không được phép nói từ đó”, giọng chị Cả gắt to.
“Cứ mãi như vậy sao?”, tôi hỏi.
Chị Cả nói, Đương nhiên là nhiều năm rồi, bây giờ chị không biết. Cô em gái đó cũng không muốn gặp chị, có thể sợ chị coi thường. Gia đình đó cũng không qua lại với chị.
Bố đẻ của chị Cả là Hán gian, vẫn sống ngắc ngoải như vậy. Nhưng không bao lâu, năm 1960, do khai thành thật, hắn được áp giải về nông trường lao động An Nhạc quê nhà. Vốn định sống những ngày tự do ở đây mà cũng không xong. Không có gì ăn, đồ ăn cho phạm nhân ở nông trường chỉ có thể cho người đầu đá ăn. Cuối tháng 10 năm đó, hắn bị bệnh phù thũng, cuối cùng không chống chọi nổi, cũng không thể làm việc tiếp, ngã lăn ra.
Trời lạnh như muốn đông cứng. Không làm việc thì không có đồ ăn. Ngay cả rau dại cỏ dại cũng không có một cọng. Khi hắn thở hơi cuối cùng, hai tay đầy máu móc lấy tường đất, miệng đầy đất, hai mắt mở to, mới ba mươi sáu tuổi. Không ai nhận xác, vứt ở hố phân. Sau khi hắn chết bao lâu sau, một người tốt bụng sau khi thoát khỏi nạn đói ở đó trên đường đi qua Trùng Khánh mới báo lại tin dữ này.
Cũng cùng năm đó, đường về quê mẹ bị tắc. Đất Quan Âm có thể ăn được ở gần đó đã sạch trơn. Ăn đất vào bụng, bụng bị phù thũng, không đi ngoài được. Khi chết, bụng trương phềnh như quả bóng da. Mẹ chú Cả là người đầu tiên trong thôn chết vì đói. Anh họ từ trường Mỏ vội trở về. Khi tới huyện Phong Đô, nạn đói khủng khiếp đã bày ra trước mắt, người ta cắm cây lương khô bán con trai con gái, bỏ nhà chạy tứ tán. Người chết bên đường không có lấy một tấm chiếu rách mà đắp. Người qua đường khuyên, Đồng chí ơi, đừng đi tiếp nữa, cậu có tiền, có tem phiếu cũng không mua được gì ăn đâu.
Đứa con hiếu thảo đó sau khi trở về trường không một từ nào nhắc tới bà mẹ bị chết đói, cũng không hề nhắc tới tình hình quê nhà bị nạn đói hoành hành, lại còn viết đơn xin gia nhập Đảng, ca ngợi tình hình tốt đẹp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Anh ta sốt sắng mong muốn tiến bộ, để sau khi tốt nghiệp không phải về lại nông thôn. Người trong nhà đã chết rồi, dù óan trách gì cũng không sống lại nổi. Chỉ có cách trèo tiếp lên bậc thang của chính quyền này mới có thể có ngày mở mày mở mặt. Cán bộ nói láo dẫn tới nạn đói. Khi nạn đói xảy ra vẫn tiếp tục nói láo, như vậy mới có thể làm cán bộ được.
5
Càng đi sâu vào điều tra, càng thấy thâm sâu không tới đáy. Nạn đói và tôi không biết đã tạo nên nguyên do gì? Mấy năm trước khi tôi chưa sinh ra, bà ngoại, dì Ba, chồng dì Ba, mẹ chú Cả, người chồng đầu của mẹ tôi và cả những người có quan hệ huyết thống lẫn không có quan hệ huyết thống với tôi lần lượt từng người biến tăm. Nhưng tôi vẫn sống, vẫn được sinh ra, vậy dựa vào đâu?
Tôi trầm ngâm, trong đầu không ngừng lặp lại vô số dấu hỏi.
Người trên con đường này cũng giống như người sống trên các con đường khác, đều nghe lời Mao chủ tịch, đều sinh con đẻ cái, đều muốn cài hoa đỏ, muốn làm mẹ quang vinh. Có người phụ nữ sòn sòn mỗi năm một, có người lại sinh đôi. Nếu cứ so vậy, khả năng sinh đẻ của mẹ chưa thấm vào đâu. Tới năm 1958, trong nhà mới thêm chị Tư, anh Năm. Trước chị Tư có sinh được một anh trai nhưng tim ngừng đập, phải tiêm thuốc kích thích đẻ, khó khăn lắm mới lôi ra được xác đứa bé trai đã chết. Mẹ ra nhiều máu, ngất lịm, nhưng rồi mẹ vẫn tỉnh lại. Đó lại chuyện của mùa xuân năm 1954.
“Cô đúng là bà mẹ ác độc, còn ba ngày nữa sinh rồi, ra sông giặt quần áo làm gì? Cô làm con trai chết ngạt trong bụng, hại chết nó rồi”, cô y tá oán trách mẹ đang nằm trên giường.
Gương mặt mẹ nở nụ cười se sẽ, đáp khẽ: “Chết một đứa, thiếu một đứa, tốt một đứa”.
Cô y tá không hiểu, bỏ ra ngoài. Một bà mẹ vô tình như vậy, hẳn lần đầu cô gặp phải.
Sự tự trào của bà mẹ bất lực có thể đã đạt được mục đích tự an ủi. Khi lần đầu tiên hẹn hò với đàn ông, ắt hẳn bà đã nhìn rõ số phận của mình và của các con mình. Nếu không ra đời, có thể tránh được mọi đau khổ và dày vò trên thế gian này sau khi sinh ra. Cách nghĩ của mẹ như vậy đương nhiên có cái lí của mẹ. Sinh để nhiều khiến dân số tăng trưởng, không chỉ tôi là người thừa, mà ngay cả anh chị tôi cũng thừa. Phần lớn người khắp cả nước đều là người thừa, có chết thêm một mớ cũng không sao.
Chị Cả nói tới nói lui vẫn không tránh khỏi cái nạn đói khủng khiếp đó, đúng thời kì tôi phải ra đời. Năm đó, chị Cả đã là cô gái mười sáu tuổi, tính tình bất an. Năm đó, chị đã biết rõ thân phận mình, càng hận mẹ hơn. Chị Cả nói tới đây, tim tôi lại đập nhanh hơn.
Related Posts
No related posts.




