Người con gái đói khát (59)

19 Tháng 11
Tháng 11-19-2009 Post by LệChi  
Chuyên mục: Truyện dịch


Tác giả: Hồng Ảnh
Người dịch: Nguyễn Lệ Chi
Dịch theo nguyên tác bản tiếng Hoa “Cơ Ngã Nữ Nhi”
Nhà xuất bản Ly Giang, 2001

CHƯƠNG 19

1

        Bỏ nhà đi bao nhiêu năm. Khi quyết định bỏ đi xa hơn nữa, tôi quay về nhà một lần vào đầu năm 1989.

        Khi sắp tới cửa khu nhà số 6, tôi mới thấy bất an, không biết người trong nhà sẽ đối xử với tôi ra sao. Bố đang ngồi bên cái bếp than cạnh sảnh. Ông mặc mấy lớp áo, co rúm lưng, đôi tay cứ xọc vào túi như sợ lạnh, đối diện thẳng với cổng khu nhà. Đôi mắt ông đã hoàn toàn không nhìn thấy được, nhưng không có thể cảm nhận được ra tôi, có thể nghe được tiếng tôi gọi bố. Ông cười.

        Mẹ từ trong phòng đi ra, cái ngó sen trong tay mẹ rơi xuống đất. Nom mẹ rất già, lưng còng hơn. Mẹ trách: “Mày quay về làm gì? Mày còn nhớ tới cái nhà này sao?”. Câu nói không lọt tai nhưng ánh mắt mẹ nhìn tôi lại mách bảo bà ngạc nhiên và sung sướng vô cùng.

        Tôi đặt chiếc túi du lịch bằng vải dù xuống, đảo mắt nhìn xung quanh. Mọi thứ ở đây, bao gồm cả bố mẹ tôi, giống hệt như tôi tưởng tượng. Chỉ có điều nom càng thảm hại hơn. Không có gì mới mẻ, cũng không có cảm giác gần gũi. Việc tôi trở về chẳng qua như liếc nhìn một cái, tự mình giao đãi với cái chốn mình từng sinh sống bấy nhiêu năm, trong đó có bao nhiêu phần dành để thăm bố mẹ?

        Nhiều lắm là ngày kia, tôi sẽ bỏ đi. Nói không ngay ngày mai, tôi sẽ đi.

        Ăn cơm tối xong, trời đã tối sụp. Trong phòng, dù có cúi đầu ngó thế nào cũng không thể nhìn thấy một nhánh cành trơ trụi của cây hoàng giác. Tôi cởi quần áo lên giường. Mẹ đang làm lễ trước tượng Phật đặt trên cái tủ năm ngăn kéo, miệng không ngừng lầm rầm điều gì đó. Bức tượng bằng sứ, không cao quá cái cốc uống nước, trước mặt tượng đặt một lư hương nhỏ. Mẹ tin Phật tới mức sùng bái, rước cả về nhà.

        Sau khi mẹ lên giường, nằm sát cạnh tôi. Tôi không quen nên nằm dịch vào trong. Mẹ cởi áo bông, đắp thêm cho tôi. Cái giá cạnh giường sát với tường được gác thêm một thanh gỗ, bên trên để quần áo mùa hè và từng tay nải bằng vải nhỏ buộc chặt, làm cho cái giường lộn xộn không tả nổi. Nếu không để ý, ngẩng đầu lên sẽ đụng phải. Tôi không nhịn được, hỏi: “Dưới giường có hòm, lại có tủ năm ngăn kéo, đều không cất đủ sao?”.

        “Cái này con không hiểu đâu. Gói ghém kĩ đồ, có thể đi bất cứ lúc nào”, mẹ đáp.

        Không đợi tôi hỏi đi đâu, mẹ khoe đã chuẩn bị sẵn, có thể xách tay nải ra đi, đầu tiên kéo bố tôi, sau xách tay nải.

        Hít hơi thở của mẹ, tôi nghĩ, mẹ chẳng qua mới sáu mươi hai tuổi, sao đầu óc già nhanh thật.

        Mí mắt tôi bắt đầu đánh nhau, cứ dính chặt lại. Thật kì lạ, khi sống bên ngoài tối nào tôi cũng phải uống thuốc ngủ mới có thể ngủ được. Thế mà vừa về nhà, không cần thuốc ngủ, đầu óc đã trở nên mụ mị nặng trĩu.

        Mẹ đã tắt đèn, nói rằng tiền lương hưu tháng này vẫn chưa được lĩnh. Mấy công ty đóng tàu không trả nổi lương cho công nhân, công nhân về hưu cũng không lĩnh nổi nửa tháng lương hưu. Trời lạnh cóng, mẹ đi lại mấy lượt đều vô ích, mấy trăm công nhân già đã nghỉ hưu đang ngồi trước cổng công ty. Mẹ sợ lạnh, lo bị bệnh nên không đi. Nếu công ty không trả lương, đám công nhân dọa sẽ ra tận đầu ngõ Triều Thiên Môn ngồi biểu tình. “Lạnh như vậy, lại đều là người già cả, sống không được mấy ngày mà phải lao vào chỗ chết thế không biết”. Trong bóng tối, mẹ tự lẩm bẩm. “Bây giờ mẹ chỉ ra quảng trường Thạch Kiều đi chợ một chuyến cũng thấy người mệt lắm rồi”.

        Mấy câu nói này tôi nghe rất rõ. Tôi nói với mẹ: “Con phải ngủ đây, mai con đưa tiền cho mẹ”.

        Mẹ muốn nói gì đó, quả nhiên ngừng lại. Mẹ nói như vậy chẳng qua chỉ là một cách nhắc nhở tôi phải nuôi gia đình này.

        Mẹ cũng không hỏi thăm tình hình của tôi, xem tôi làm gì bên ngoài. Mẹ vẫn không xem trọng tôi. Nhưng nếu mẹ có hỏi, tôi có thể nói gì đây? Nếu tôi kể đứa con gái thứ sáu của mẹ làm thơ, viết văn để kiếm sống, nhất định mẹ không tin và cũng không hiểu. Tôi đã hai mươi sáu tuổi, sắp hai mươi bảy đến nơi rồi. Mẹ cũng không hỏi tôi đã có người yêu chưa, khi nào cưới. Cũng có thể mẹ hiểu cách sống của đứa con gái như tôi, không hỏi vẫn tốt hơn, đỡ lo lắng.

 

2

        Ngày thứ hai tỉnh giấc, tôi đã ngửi thấy mùi hương của nhang thơm hiệu Đại Chúng. Mùi thơm xộc mũi. Những cây hương cong cong trên chiếc lư hương tỏa ra ba cây khói trắng nghi ngút. Bố đã dậy từ sớm, lần xuống lầu. Đứng trước tôi, ông thở rất khó nhọc, đang uống một bát thuốc màu đậm đặc. Ông không nhìn thấy tôi, chỉ cảm thấy tôi đứng bên bậu cửa.

        Mẹ vừa xách làn thức ăn về, nhấc ra củ cải trắng, vài lạng thịt lợn, một bó hành đặt trên chiếc bàn trúc kê sát tường. Tôi lại gần giúp mẹ nhặt bỏ những lá hành vàng và rút tiền ra đưa mẹ. Mẹ đếm kĩ tiền, trả lại tôi hai tờ. Tôi cũng không từ chối, nhận luôn. Tôi nói với mẹ sau này vẫn gửi tiền cho mẹ.

        “Một lồng gà không kê, ắt cũng phải có một con kêu”, mẹ nói, “Mẹ biết con là đứa hiếu thuận nhất”.

        “Sáng mai con đi”, tôi ngắt lời mẹ.

        Nụ cười trên gương mặt mẹ chợt ngưng đọng. Mẹ nói, “Tối qua con còn bảo hôm nay mẹ đi mua nhiều thức ăn. Sao con không nói sớm?”.

        Bố cầm cái quạt trên bếp lò, quạt vào bếp. Mẹ lại gần, giật phắt lấy, “Lửa cháy rồi, không đến nỗi không nhỏ. Quạt làm gì nữa, hại mắt, chỉ lắm chuyện”.

        Mẹ tức tôi nhưng không dám trút lên tôi, chỉ biết quay sang bố. Người vẫn phải khôn lớn, tôi nghĩ, chí ít khi khôn lớn rồi, mẹ không thể tùy tiện nổi giận với mình nữa.

        Suốt cả chiều và tối, bầu không khí trong nhà rất trĩu nặng dị thường. Tới bữa tối, anh Năm trở về, trông rất gầy, người cũng như lùn đi. Nhìn thấy tôi, anh chỉ nói một câu “Em về rồi à”. Ngay cả anh cũng trở nên xa lạ, chưa nói tới các anh chị em khác. Tôi quyết định ngày mai đi thật đúng. Tôi chỉ mong bóng tối ập xuống, chỉ mong ngày hôm nay mau chóng kết thúc.

        Mẹ đã rửa chân, chần chừ chưa chịu lên giường. Đồng hồ trên tường đã điểm mười hai giờ. Người sống trong khu nhà này đã ngủ hết cả. Mẹ còn lật giở mãi trong rương hòm, như tìm kiếm thứ gì. Nhất định là trí nhớ mẹ có vấn đề rồi, tìm mãi không thấy.

        Thấy mẹ sốt ruột, tôi nằm trong chăn nói vọng ra: “Thứ mẹ muốn tìm không chừng trong cái bọc trên đầu con đây này”. Mẹ vỗ lên đầu, liền trèo lên giường, lấy xuống một cái bọc vải.

        Tôi lười biếng nhìn mẹ, rồi nhắm mắt định ngủ tiếp.

        Mẹ gọi tôi, tôi mở choàng mắt ra, thấy trong tay mẹ cầm một chiếc kèn ắc mô ni a, trên chiếc bọc vải được giở tung là một chiếc mũ trẻ em màu xanh lam. Đó đều là thứ tôi đã từng nhìn. Mẹ đưa chiếc kèn cho tôi. “Con sẽ không bao giờ được gặp không ấy nữa”, mẹ nói với vẻ đắc ý lạ, như thể một đòn báo thù.

        “Tại sao?”, tôi hỏi, biết thừa mẹ đang nói ai.

        “Ông ấy đã bị ung thư phổi, chết rồi. Trước khi chết, ông ấy rất muốn gặp con và mẹ, có nhờ mẹ già đi tìm chị Hai. Khó khăn lắm mới tìm được chị Hai con. Nhưng chị Hai không sang sông gọi mẹ, mà dù có gọi, con cũng không ở đây”, mẹ nhắm vào tôi mà nói, “Dù con có ở, con cũng không đi”.

        “Con không ở nhà”, tôi lặp lại lời mẹ. Ngày 20 tháng 4 năm 1986 khi bố đẻ tôi thở hơi cuối cùng, tức ba năm trước, tôi lúc đó hai mươi tư tuổi đang ở đâu nhỉ? Đang giết thời gian, chơi bời ở thành phố nào? Có thể tôi đang tụ tập với một nhóm người cùng uống rượu tán phét, cười ha hả, hay đang ngả ngớn trong lòng một người đàn ông tự cho rằng yêu tôi? Tôi không nhớ nổi, cảm giác trong đầu có vật gì bắt đầu gõ. Tôi ngồi dậy trong chăn, bình thản nói, “Người sắp chết, con cũng tới mà”.

        Mặt mẹ cúi gằm, tôi nhìn không rõ, chỉ cảm giác mẹ đang cười lạnh lùng. Nhưng thấy tay mẹ vuốt mặt, vậy hẳn mẹ đang khóc.

        Chị Hai viết thư từ trước tới giờ chưa từng nhắc tới chuyện này. Tôi tin rằng sau này chị cũng vĩnh viễn không kể cho tôi nghe. Mẹ đẻ của bố đẻ tôi, bà nội tôi, vì đứa con trai sắp chết muốn gặp mặt tôi, đã tới tìm chị Hai. Chị Hai từ chối thẳng: “Bà đừng đến tìm nhà chúng tôi nữa, đừng tới tìm Lục Lục nhà chúng tôi nữa. Lục Lục nhà chúng tôi không nhận các người đâu”.

        Chị Hai cứ giữ mãi bí mật này, như đồng thời chị cũng giữ một bí mật khác: chị từng thay mẹ nhận mười tám đồng tiền nuôi tôi mà bố đẻ tôi gửi hàng tháng.

        Sau này mẹ tôi mới biết chuyện, cũng không trách chị một câu. Về chuyện này, lòng mẹ rất trống rỗng. Mẹ luôn có thái độ tự bi với các con, luôn giữ cho mình sự đau đớn và oan ức.

        Mẹ nói đã cảm nhận, mấy đêm liền toàn nằm mơ. Mẹ mơ thấy bố đẻ tôi khóc như một đứa trẻ, trách móc mẹ tôi không đi thăm ông. Trước khi trong giấc mơ của mẹ, ông không hề như vậy. Mẹ biết ông đã đi rồi.

        Ung thư giai đoạn cuối, không một bệnh viện nào muốn nhận. Xưởng sản xuất tập thể không chịu trả tiền viện phí chữa bệnh, gia đình phải khênh ông tới từng bệnh viện, nhưng chỉ có một trạm y tế ở thị trấn, gồm có vài cái giường, là chịu nhận ông nằm chờ chết. Vợ ông phục dịch một thời gian, rồi bỏ mặc, ngay cả lúc hỏa táng cũng không chịu đi. Lòng bà ta hiểu rõ vị trí của mình như thế nào trong lòng ông.

        “Trước khi chết, ông ấy gọi tên mẹ và tên con, cầu xin mẹ già tới tìm hai chúng ta”. Mẹ ngừng lại, nói rằng lúc thường ngày bố đẻ tôi ngay cả trứng gà cũng tiếc không nỡ ăn. Ông mắc bệnh ung thư phổi, do thiếu dinh dưỡng, cơ thể rất yếu, lại làm việc cật lực lâu năm trong xưởng. Bà nội kéo tay mẹ khóc, nói rằng, Nó mới bốn mươi chín tuổi mà đã chết, sao tôi già cả thế này, sống đủ rồi mà không chết, ông trời còn có mắt nữa không?


Related Posts

No related posts.

Gửi bình luận

Bạn có ý kiến gì hãy viết ở đây...
Muốn có Avatar, Xin vào gravatar đăng ký!