Khích lệ trẻ ham học (5)

30 Tháng 11
Tháng 11-30-2009 Post by LệChi  
Chuyên mục: Truyện dịch


Tác giả: Lâm Cách
Nhà xuất bản Thế giới mới, Trung Quốc, 2003.
Dịch giả: Nguyễn Lệ Chi

3.1.3 Việc học tập của trẻ gồm mấy giai đoạn?

Tìm hiểu tình trạng học tập của trẻ còn quan trọng hơn, chính xác hơn rất nhiều so với việc tìm hiểu điểm số thi của trẻ. Chỉ cần hàng ngày, bạn để tâm tới, tới lúc cần thiết có thể cùng đối chiếu với thầy cô. Lúc này, về cơ bản bạn có thể phán đoán được trẻ cần tăng cường mặt nào, và mặt nào đã đạt tới tiêu chuẩn học sinh ưu tú. Từ ý thức học tập và vài mắt xích quá trình mang tính tiêu chí, có thể hình thành được bốn giai đoạn. Hãy xem con bạn đang ở trong giai đoạn học tập nào.

Giai đoạn 1:

1. Động cơ: Không xác định được mục đích học tập. Có lúc còn cho rằng người lớn ép mình phải chịu khổ. Không nhạy cảm với kiến thức mới. Mặc dù đã được nhắc nhở, cũng không có ý thức nắm lấy kiến thức.

2. Lên lớp: Lên lớp một cách bị động, ghi chép đơn giản, có lúc còn không ghi bài. Luôn sợ hãi các câu hỏi mà thầy cô đưa ra.

3. Ôn tập: Sau khi về nhà, về cơ bản không xem lại bài khoá. Cũng không mất nhiều công sức ghi nhớ những công thức, những khái niệm cơ bản cùng những đoạn kiến thức hay… Đối với kiến thức đã học, không liên tưởng, không ôn tập.

4. Bài tập: Không thể hoàn thành bài tập đúng thời hạn. Để đối phó với thầy cô trên lớp, thường xuyên chép lại bài tập của người khác.

Giai đoạn 2:

1. Động cơ: Đã có động cơ nhưng mục tiêu không rõ ràng. Việc học tập chỉ rơi vào tình trạng tự giác ngộ. Nếu không có khích lệ và yêu cầu bên ngoài, không thể tự kiên trì. Phải luôn do bố mẹ và thầy cô nhắc nhở mới cảm nhận được những kiến thức mới, nhưng năng lực nắm vững chúng vẫn còn rất yếu.

2. Lên lớp: Về cơ bản có thể theo kịp tư duy của giáo viên. Có tư duy hoạt bát trong vòng hơn hai mươi phút. Có ý thức ghi nhớ về những lý giải cơ bản, đôi khi cũng có thể đặt được câu hỏi.

3. Ôn tập: Đã chú ý đọc sách, có thể đọc thuộc những khái niệm cơ bản, những công thức, những đoạn văn hay… Nhưng năng lực liên tưởng ý thức vẫn còn yếu. Đối với việc liên tưởng giữa kiến thức mới và cũ, chỉ có thể đạt được một số nhận thức tổng quát nói chung khi ôn tập tổng thể.

4. Bài tập: Có thể ôn tập trước, làm bài tập sau. Có thể tự làm bài tập, không cần chép lại của người khác. Hiệu quả vẫn còn rất kém, đôi khi còn có tình trạng nợ bài tập.

Giai đoạn 3:

1. Động cơ: Có thể học vì mục đích. Nhưng sau khi thực hiện mục tiêu cũ và chưa lập được mục tiêu mới, động cơ học tập sẽ bị suy giảm. Đối với kiến thức mới, về cơ bản rất nhạy cảm, nhưng không thể bước vào trạng thái chủ động, không thể nhanh chóng tóm được đặc trưng quan trọng.

2. Lên lớp: Trong tình huống có chuẩn bị bài mới, có thể tận dụng 45 phút trên lớp, dám nêu câu hỏi. Sau khi tan học, có thể nói lại được những nội dung chính vừa học.

3. Ôn tập: Nghiêm túc đọc sách, có thể hiểu chính xác và lý giải được những khái niệm cơ bản, công thức, những đoạn văn hay… Qua bố mẹ hoặc thầy cô gợi ý, có thể liên tưởng từ kiến thức cũ tới kiến thức mới và lý giải được mối liên hệ này.

4. Bài tập: Về cơ bản có thể nghiêm túc hoàn thành bài tập trong thời gian ngắn. Thỉnh thoảng cũng chép lại bài tập của người khác, nhưng chỉ chép sau khi đã hiểu rõ.

Giai đoạn 4:

1. Động cơ: Có theo đuổi lý tưởng cao. Có mục tiêu hành động cụ thể, coi việc học tập trở thành thủ pháp có mục đích. Có nhu cầu mạnh trong việc tìm kiếm tri thức. Học tập ở trạng thái động não, có thể lập tức ý thức được đặc trưng của kiến thức mới.

2. Lên lớp: Có thể tận dụng tối đa thời gian 45 phút trên lớp. Có thể tiếp thu được tại chỗ và cố gắng ghi nhớ tại chỗ. Từ kiến thức cũ có thể nhanh chóng liên tưởng tới kiến thức mới. Kiến thức cũ và mới trở thành một hệ thống tổng thể hữu cơ.

3. Ôn tập: Đọc sách ôn tập để suy nghĩ. Có thể ghi nhớ chuẩn xác những khái niệm cơ bản, kiến thức và những đoạn văn hay.

4. Bài tập: Có thể độc lập hoàn thành bài tập và phân biệt được mức độ khó dễ của đề bài. Có thể tìm được nguyên nhân thực sự tại sao sai trong những đề bài sai.

3.1.4 Làm thế nào để tìm được nguyên nhân thực sự khi trẻ học tập giảm sút?

Ngoài việc quan tâm tới thành tích học tập của con cái, bố mẹ còn cần phải giúp đỡ con cái trong việc phân tích nguyên nhân thực sự khiến thành tích học tập của trẻ bị giảm sút. Và căn cứ trên nguyên nhân tìm được để “bốc thuốc” chữa trị cho hợp lý, cùng trẻ định ra những biện pháp sửa chữa.

Nguyên nhân hạn chế thành tích học tập của trẻ thông thường có rất nhiều và rất phức tạp. Nếu không học tâm lý học và giáo dục học sẽ rất khó nắm được phương pháp thực thi.

Căn cứ vào đó, chúng ta kết hợp thực tế làm nghiên cứu. Để thuận tiện cho các bậc phụ huynh nắm vững, cần phải xác định sẵn cho họ một tiền đề. Tiền đề đó chính là nếu chúng ta không có cách nào phán đoán được nguyên nhân phức tạp cụ thể, đừng ngại cách thử chọn một nguyên nhân quan trọng nhất trên nguyên tắc mang tính quyết định. Từ đó tìm ra con đường giải quyết vấn đề.

Nhà tâm lý xã hội học nổi tiếng Trung Quốc Khải Lợi từng nêu ra nguyên tắc tìm kiếm nguyên nhân là: Trong vô số nhân tố có thể trở thành nguyên nhân, cái nào biến đổi cùng với hiệu quả thì cái đó chính là nguyên nhân thực sự.

Làm bậc cha mẹ, đừng ngại hãy thử tìm hiểu nguyên tắc này. Thực ra, nó không chỉ có lợi trong khi phân tích việc học tập cho con bạn, mà còn có lợi đối với chúng ta khi tìm hiểu chân tướng sự thật. Phương pháp này là một dạng sáng tạo của phép loại trừ.

Làm thế nào để xác định được nguyên nhân nào mới là nguyên nhân thực sự? Có thể chia thành ba bước sau. Bước 1 là thay đổi thời gian, để xem có tính nhất quán hay không. Bước 2 là thay đổi địa điểm, để xem có tính thống nhất hay không. Điểm 3 là thay đổi đối tượng, để xem có tính phân biệt hay không.

Đối với hiện tượng “thành tích học tập của con cái kém”, trước hết phải thiết lập một dạng quan niệm. Đó là, đối với đại đa số bọn trẻ không hề tồn tại vấn đề trở ngại trong học tập. Tuy nhiên cũng không phủ nhận rằng, có một số trẻ tồn tại những khó khăn trong học tập. Và việc dán thêm “chướng ngại học tập” cho trẻ là một trong những bi kịch giáo dục lớn nhất của thế kỷ này. Bởi vì, ngoài những thiên tài và những thằng ngốc rất hiếm hoi ra, phần lớn bọn trẻ đều có trí óc tương đối ngang nhau. Mỗi một đứa trẻ đều có khả năng giành được thành công qua học tập.

Trẻ học tập kém có thể bắt nguồn bởi hai tình huống. Một là không nỗ lực, tất yếu dẫn tới thành tích học tập kém. Hai là rất nỗ lực, nhưng thành tích không tốt. Đối với hai vấn đề này có thể tìm ra được nguyên nhân thực sự.

Tình huống 1: Không nỗ lực, tất yếu dẫn tới học kém

Nói một cách khác là “Không ham học, nên hiệu quả tồi”. Có khả năng do ba nguyên nhân sau:

- Thiếu cảm giác thành tích. Tức là trong quá trình học tập, trẻ không hình thành ý thức thành tích và cảm giác thu hoạch. Hoặc chưa nếm được vị ngọt ngào trong học tập. Về mặt tâm lý vẫn chưa thực hiện được sự cân đối giữa bỏ ra và thu vào. Do đó tự nhiên trẻ không thích học.

+ Biện pháp giải quyết: Một là bố mẹ và thầy cô phải kịp thời cổ vũ, khích lệ. Hai là để đối phó với vấn đề của những đứa trẻ chỉ có thể tiếp nhận kiến thức ở mặt bề ngoài nhưng không thể nếm được vị ngọt ngào trong học tập, cần phải khơi dậy khát vọng tìm kiếm kiến thức của trẻ, phải khai thác tiềm năng học tập của trẻ. Đồng thời phải tiến hành bồi dưỡng năng lực. Đến khi đứa trẻ có được một năng lực nhất định, có thể chủ động sử dụng kiến thức đã học và năng lực độc lập giải quyết vấn đề, trẻ sẽ đạt được cảm giác thành tích rất quan trọng. Vấn đề này sẽ được nói kĩ hơn ở phần sau.

- Ham chơi. Tức là chỉ cần có cơ hội chơi, đứa trẻ sẽ vứt ngay nhiệm vụ học tập, không thể khống chế được bản thân. Tự nhiên sẽ không thích học.

+ Biện pháp giải quyết: Bản tính của trẻ chính là ham chơi. Không thể đi ngược lại bản tính của trẻ, nhưng nếu đứa trẻ hoàn toàn không có tác dụng ngoại lực sẽ rất khó điều tiết được trạng thái “tự giác học tập”. Muốn thực hiện được nhiệm vụ đặt ra, không thể chỉ đạo suông. Hãy để trẻ tự đặt ra kế hoạch ôn tập. Bố mẹ có thể giúp đỡ trẻ thực hiện mọi kế hoạch đặt ra như phải hoàn thành bao nhiêu nội dung, phải làm bao nhiêu bài tập. Cứ mỗi tuần, bố mẹ cần phải tiến hành kiểm tra bắt buộc. Phương pháp là chép lại những ví dụ trong nội dung mà trẻ đã ôn tập xong, coi như đề thi thử để trẻ hoàn thành. Sau đó đem bài giải của trẻ đối chiếu với lời giải trong sách, xem trẻ làm đúng hay sai và xem trẻ có chịu ôn tập hay không. Rồi từ những ví dụ đó chọn ra được một số đề bài, yêu cầu con giảng lại cho bạn. Nếu trẻ không làm được, hãy yêu cầu trẻ xem lại. Nếu vẫn không nói ra được, phải bắt trẻ ôn tập lại những kiến thức cũ.

Nguyên tắc giáo dục:

Nếu chúng ta không có cách nào phán đoán được nguyên nhân phức tạp cụ thể, đừng ngại cách thử chọn một nguyên nhân quan trọng nhất trên nguyên tắc mang tính quyết định. Từ đó tìm ra con đường giải quyết vấn đề.

- Không có mục tiêu. Tức là trong sâu thẳm tâm trí của trẻ không có khát vọng, không có mơ ước về tương lai. Đồng thời, trong quá trình học tập cũng không hình thành được mục tiêu rõ ràng. Không biết tại sao phải học, cũng không biết phải làm thể nào để nỗ lực vì mơ ước và mục tiêu.

+ Biện pháp giải quyết: Một là phải khơi gợi trẻ hình thành mơ ước của riêng mình. Phải nói cho trẻ biết rằng có thể thực hiện được mơ ước bằng nỗ lực, và những người thực hiện được mơ ước mới có hạnh phúc. Hai là qua cách so sánh và khích lệ, để trẻ tìm ra tấm gương, hướng dẫn trẻ bắt chước phương pháp học tập thành công của tấm gương đó. Ba là xác định rõ mục tiêu cơ bản nhất và nói cho trẻ biết rằng, muốn thực hiện được mục tiêu, cần phải hành động từng bước cụ thể.

            Căn cứ trên nguyên tắc cùng chuyển biến ở trên, trong đó có một nguyên nhân nhất định là nguyên nhân thực sự khiến trẻ học kém. Vậy nguyên nhân nào mới là quan trọng nhất?

Tình huống 2: Rất nỗ lực học tập nhưng học vẫn kém

Có khả năng do ba nguyên nhân sau:

-  Sức khoẻ. Do sức khoẻ kém hoặc không đủ dinh dưỡng nên sức chú ý kém, không thể tập trung. Những nhân tố phi trí lực khác cũng không thể tự do phát huy được đầy đủ.

+ Biện pháp giải quyết: Một là phải điều chỉnh tình trạng sức khoẻ. Khi cần thiết có thể tới bệnh viện nhờ bác sĩ giúp đỡ. Hai là điều chỉnh kết cấu dinh dưỡng ăn uống, tăng thêm những thực phẩm có lợi cho não. Ba là phải đảm bảo mỗi ngày ngủ đủ chín tiếng. Đặc biệt từ 11 giờ đêm tới 1 giờ sáng và nhất thiết phải ngủ say.

-  Thói quen. Không có thói quen tốt sẽ không thể hình thành được phương pháp học tập thích hợp với trẻ.

+ Biện pháp giải quyết: Bố mẹ giúp đỡ con cái hình thành nên thói quen học tập tốt.

-  Qua loa. Cẩn thận là phương pháp duy nhất giúp có được sự thu hoạch. Qua loa thường là cái cớ mà trẻ vẫn dùng để thanh minh cho  việc học kém. Nhưng nó luôn luôn là một nguyên nhân chết người.

+ Biện pháp giải quyết: Xác định thực chất của việc “qua loa” cho trẻ. Nói cho trẻ biết khi trẻ đổ lỗi tại mình qua loa, thực chất chính là trẻ đang tha thứ cho những sai lầm của mình và không đi nghiên cứu bản chất nguyên nhân của việc xảy ra sai lầm. Đơn giản hoá những vấn đề phức tạp. Sau khi sai lầm có thể sửa chữa sai lầm nhưng vẫn chưa đủ, đặc biệt đối với việc làm bài tập và thi rất qua loa. Cần phải suy nghĩ nghiêm túc về những đề bài mà trẻ có thể làm đúng, nhưng trên thực tế lại làm sai, và làm thế nào mới tránh được sai sót.

            Căn cứ vào nguyên tắc trên, tìm ra một nguyên nhân thực sự khiến trẻ học kém. Vậy nguyên nhân nào mới quan trọng nhất?


Related Posts

No related posts.

Gửi bình luận

Bạn có ý kiến gì hãy viết ở đây...
Muốn có Avatar, Xin vào gravatar đăng ký!