Khích lệ trẻ ham học (10)

Tác giả: Lâm Cách
Nhà xuất bản Thế giới mới, Trung Quốc, 2003.
Dịch giả: Nguyễn Lệ Chi
3. LÝ GIẢI LÀ SỨC CẠNH TRANH TRỌNG TÂM
Trí nhớ rất quan trọng. Trí nhớ thực sự dựa vào năng lực liên tưởng. Nếu không có liên tưởng, sẽ không có trí nhớ. Mức cao nhất của trí nhớ là sự lý giải. Những trí nhớ đã được lý giải là trí nhớ giàu tính sáng tạo nhất. Vì vậy, năng lực lý giải liên tưởng là trọng tâm của năng lực trí nhớ. Trong thực tế cuộc sống học tập, liên tưởng và lý giải phải là sức cạnh tranh quan trọng nhất.
Trong xã hội hiện đại, sử dụng thông tin và kiến thức là điều rất dễ dàng. Trước đây, dựa vào kiến thức phong phú có thể kiếm được rất nhiều tiền, còn ngày nay thì sao? Tất cả mọi người đều có quyền lợi và có khả năng giành được kiến thức và thông tin vô hạn. Do vậy nội dung và hình thức của sức cạnh tranh đều có những thay đổi.
Xét từ một ý nghĩa nào đó, sự cạnh tranh trong xã hội hiện đại trên thực tế là sự cạnh tranh giữa lý giải và ứng dụng. Tính độc đáo của một con người không nằm ở chỗ người đó nắm giữ bao nhiêu kiến thức và thông tin, mà ở chỗ người đó đã lý giải và ứng dụng được bao nhiêu kiến thức và thông tin.
Lý giải chính là đặc điểm hình dạng khái quát chuẩn xác, đáng tin, cũng có thể được gọi là nhận thức lí tính. Quá trình chuyển hoá từ nhận thức cảm tính tới nhận thức lý tính của con người chính là quá trình lý giải. Và lý giải chính là việc nắm vững kết cấu đặc trưng của sự vật, bao gồm cả những đặc trưng của từng phần trong sự vật và những đặc trưng trong mối quan hệ giữa các bộ phận.
Nhưng tại sao chúng ta vẫn không biết cách sử dụng rất nhiều kiến thức hoặc khái niệm, mặc dù đã lý giải được chúng? Điều này liên quan tới nhận thức mang tính giác ngộ. Tức là nhận thức cảm tính trong lý tính. Kiến thức cần phải đạt được vận dụng, tức là cần phải được ứng dụng vào trong cuộc sống thực tế. Như vậy, nếu chỉ lý giải không vẫn không đủ, còn cần phải áp dụng kiến thức, “làm sống” chúng.
Vấn đề này xem ra hơi trừu tượng. Xin đưa ra một ví dụ, nếu mười năm trước, chúng ta quen một người, rồi bẵng đi suốt mười năm qua không hề gặp nhau. Vô tình gặp lại trong một bữa tiệc thì dù thân hình, vóc dáng của anh ta có thay đổi ra sao, bạn vẫn có thể nhận ra ngay lập tức. Cái này thường được nói đùa rằng “dù có cháy thành than vẫn nhận ra”. Tức là bạn đã có “đặc điểm hình dạng” đối với việc lý giải và nhận thức về anh ta, đồng thời đã thực hiện việc áp dụng. Tương tự như vậy đối với việc học, làm thế nào mới thực hiện được áp dụng? Ví dụ khi trẻ đã biết được 4 bình phương = 4 x 4, chúng sẽ lập tức trả lời “chó” bình phương = chó x chó. Như vậy công thức đã được áp dụng.
Con người thường nhận thức sự vật và kiến thức như vậy. Trước tiên phải có nhận thức cảm tính, rồi thông qua quá trình đào sâu khai thác, hình thành nên nhận thức lí tính sau khi trừu tượng hoá được tính chung. Nhưng nếu chỉ mãi điều này cũng không đủ. Sau khi “đào sâu” cần phải “đi ra bớt”. Và một lần nữa lại biến thành nhận thức cảm tính trong lí tính. Điều này chính là “nhận thức mang tính ngộ”. Ngộ, tức là tìm kiếm cảm tính trong lí tính. Tính ngộ chính là cảm tính ẩn chứa trong lí tính. Đó chính là nhận thức cao nhất.
Vậy làm thế nào để con người nâng cao được nhận thức mang tính ngộ? Đây là một việc vô cùng khó khăn, nhưng không có cách nào khác, chỉ có thể thực hiện được qua quá trình gian khó. Giống như phía trước đã nói, trước tiên phải đào sâu. Tức là dồn sức chú ý tập trung vào một điểm để tiến hành đào sâu suy nghĩ. Sau đó có thể lấy điểm này làm nguồn phát xạ, tiến hành suy nghĩ liên tưởng theo kiểu rời rạc, hoặc là liên tưởng, hoặc là tưởng tượng…
Sau khi đào sâu suy nghĩ, thường có thể chia thành ba bước để tiến hành “làm sống” chúng. Trên thực tế, ba bước này chính là quá trình nỗ lực vận dụng kiến thức, đồng thời cũng là quá trình thực hiện thăng tiến theo kiểu xoáy trôn ốc. Tức là từng bước đi cũng chính là từng mục đích. Khi thực hiện mục đích, đồng thời cũng dần thúc đẩy sự lý giải của mình. Đối với trẻ, việc nắm vững phương pháp lý giải rất quan trọng, chủ yếu được chia thành ba bước sau:
- Học cách diễn đạt:
Kiến thức cần phải được diễn đạt. Diễn đạt là cỗ máy thúc tiến cho việc lý giải. Hãy khích lệ trẻ học cách diễn đạt:
+ Một là kể lại mang tính mô phỏng. Từ mô phỏng tới sáng tạo mới là con đường tất yếu của việc đi sâu vào lý giải.
+ Hai là chia sẻ với người khác về những lý giải của bạn, kể rõ từng tí một. Đây là sự chuyển hoá mang tính xây dựng vì lý giải của mình, căn cứ vào ý nguyện của mình, xác định phương hướng phát triển của nó.
+ Ba là học cách nêu ra ví dụ để chứng minh. Ví dụ chứng minh không chỉ có thể kiểm tra mà còn ổn định được sự lý giải của con người, đặt được cơ sở thực tế cho nhận thức.
- Học cách lắng kiến thức
Nếu nhận thức có thể phát triển được trong nhận thức của một con người, nó mới có sức sống và sức mạnh. Nhưng điều này là một quá trình phát triển tuần tự. Cái không thể vượt qua được là nhất định phải trải qua mắt xích “lắng xuống”, rồi tiến vọt lên theo kiểu xoáy trôn ốc, không ngừng lắng, không ngừng “lặp lại”. Cái được gọi là “tích luỹ nhiều, xuất phát mỏng” chính là mang hàm nghĩa này. Phải khích lệ trẻ học cách lắng đọng kiến thức và lý giải.
+ Một là đóng kín để bảo tồn. Sau khi kiến thức đi vào tâm tưởng con người, chúng ta cần phải chuyển sang giai đoạn đóng kín chúng để bảo tồn. Nhưng việc này nhất thiết phải là một tổng thể tri thức, chứ không được tản mạn, rời rạc.
+ Hai là ghi chép. Hãy nuôi dưỡng thói quen “mỗi ngày viết một tí”, dù chỉ là một câu, một từ. Khi nghĩ được điều gì đó, hãy ghi chép lại bất cứ lúc nào. Mỗi tuần giở ra một lần, mỗi tháng ôn lại một lần. Cứ dần dần như vậy sẽ giúp cho kiến thức và tư tưởng lắng lại.
- Học cách liên tưởng
Liên tưởng là điều kiện để sự vật tồn tại và phát triển. Đồng thời cũng là mấu chốt khiến kiến thức có thể lý giải và nắm vững được. Trên thực tế, liên tưởng lý giải là một trong những biện pháp thực hiện trí thông minh. Do vậy, cần phải khích lệ trẻ học cách liên tưởng.
+ Một là so sánh. Kiến thức quá nhiều, nếu nắm vững riêng lẻ từng cái một sẽ dồn thành một đống, không có lợi cho việc đi sâu vào từng nội dung. Nhưng trong học tập, biết so sánh, quan sát, phân tích, tìm kiếm sự khác biệt và liên tưởng giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, đồng thời biết tìm ra những đặc tính chung, và phân biệt những đặc tính riêng của chúng thì có thể nâng cao được năng lực.
+ Hai là liên tưởng. Trí thông minh của một con người phụ thuộc vào sự hoạt bát của tư duy. Tư duy hoạt bát chính là không chỉ giới hạn ở những kiến thức trên sách vở và những kiến thức đã có, mà còn cần phải mở rộng liên tưởng. Phải nối liền tình cảm của một con người với kinh nghiệm của họ, hình thành nên cái đẹp sinh ra từ sự liên tưởng.
+ Ba là vẽ. Những kiến thức sau khi được so sánh và liên tưởng nên được tiến hành phân loại, cái nào tác động tới cái nào, cái nào là bộ phận và cục bộ của cái nào, cái nào là tổng thể và hệ thống của cái nào. Rồi dùng hình vẽ để thể hiện nó ra.
Những vấn đề các bậc phụ huynh cần suy ngẫm:
1. Bạn đã kiểm tra trí thông minh cho con bạn chưa? Bạn nhìn nhận ý nghĩa thực tế của trí thông minh ra sao?
2. Trẻ thông minh tự biết cách học. Vậy bạn nên dùng phương pháp nào để giúp con bạn trở nên thông minh hơn?
3. Chơi chính là học. Học chính là chơi. Nhưng điều quan trọng có thể học được từ chơi chính là-giúp trẻ được tự do chơi đùa. Tất nhiên cũng phải tránh việc chơi quá đà, có thể cùng trẻ đặt ra thời khoá biểu chơi.
Related Posts
No related posts.




