Khích lệ trẻ ham học (9)

Tác giả: Lâm Cách
Nhà xuất bản Thế giới mới, Trung Quốc, 2003.
Dịch giả: Nguyễn Lệ Chi
CHƯƠNG 3: LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRẺ TRỞ NÊN THÔNG MINH?
1. TRẺ THÔNG MINH LÀ TRẺ BIẾT CÁCH HỌC
Từ “thông minh” được tập hợp từ hai ý, đó chính là “tai thông, mắt rõ”. “Tai” và “mắt” đều là những cơ quan học tập và cảm nhận quan trọng của con người. Nhưng cái được gọi là “tai thông” chính là việc có thể cảm nhận được một cách nhạy cảm những thứ mà người thường không tài nào lĩnh hội được. “Mắt rõ” chính là việc có thể thông qua hiện tượng bề mặt mà nhìn thấy được thực chất của sự vật.
Trước hết, từ góc độ sinh lý, chúng ta hãy lý giải con người làm thế nào để trở nên thông minh. Khoa học hiện đại đã nghiên cứu, phát hiện ra rằng tầng màng não do rất nhiều tế bào thần kinh tập hợp lại mà tạo thành. Chúng được gọi là thần kinh nguyên. Thần kinh nguyên giống như một thân cây nhỏ. Một số phần ở các nhánh cây có nhiều cục lồi lên, gọi là “u gỗ”.
“U gỗ” có diện tích khá lớn, chiếm 80% tổng diện tích bề mặt của thần kinh nguyên. Nhưng cành và rễ cây tạo nên những mạch thần kinh nhỏ và dài. Trên mỗi một thần kinh nguyên đều có một mạch thần kinh.
Giữa các thần kinh nguyên không nối liền với nhau theo kết cấu hỗ tương, mà có một vách ngăn ở giữa như hình gạch ngang. Con người có thể học tập được chính là nhờ vào những truyền đạt tuy nhỏ bé nhưng cũng vô cùng phong phú này của phần tiếp giáp giữa các thần kinh nguyên.
Khi con người đang tư duy, thông tin chủ yếu được biểu hiện thành xúc động thần kinh. Tức là từ thần kinh nguyên này, băng qua phần tiếp giáp, chuyển tới một thần kinh nguyên khác. Lúc này thần kinh nguyên phía trước đã giải phóng ra một dạng vật chất hoá học, thần kinh chuyển chất, tác dụng lên thần kinh nguyên phía sau. Khiến một thần kinh nguyên sinh ra xúc động thần kinh mới, và thông tin được truyền đi truyền lại như một cuộc thi tiếp sức. Phần tiếp giáp càng nhiều, năng lực truyền thông tin càng mạnh. Phạm vi mạng lưới được xây dựng giữa các tế bào não càng lớn, con đường thông nhau càng nhiều. Cơ năng của não càng phát triển, năng lực trí tuệ của con người cũng càng cao.
Có thể tạo ra được xúc động thần kinh. Quan trọng là làm thế nào để nghĩ ra vấn đề. Nghĩ nhiều, nghĩ thông rồi, những xúc động thần kinh có thể thực hiện từng cái một. Con người chính nhờ vậy mà trở nên thông minh. Nhưng đối với một đứa trẻ, chủ yếu là phải hướng được chúng tới những lối nghĩ đối xứng, nghĩ tách rời, nghĩ tổng thể, nghĩ ngược lại. Thực tế đã chứng minh rằng “bốn cách nghĩ” đó là điểm mấu chốt khởi động thần kinh nguyên của đại não. Nếu thường xuyên luyện tập như vậy, trẻ cũng sẽ trở nên ngày càng thông minh hơn.
- Nghĩ đối xứng mới có thể nghĩ được thông:
Thế giới được cấu tạo rất đối xứng, chẳng hạn có đàn bà phải có đàn ông, có tay trái phải có tay phải, có tai trái phải có tai phải, có trên phải có dưới, có trước phải có sau, có ảo phải có thực, có trắng phải có đen…. Tất cả những cái được gọi là đối xứng chính là cái đẹp. Đối xứng giúp thế giới này trở nên rõ ràng hơn.
Vì vậy nếu muốn nghĩ thông, khi suy nghĩ, cần phải tính tới việc nghĩ đối xứng. Biết một, cần phải biết hai. Khi hướng dẫn trẻ suy nghĩ, luôn luôn phải chú ý không thể chỉ nghĩ một mặt, mà còn cần phải nghĩ cả mặt đối xứng với nó. Phải liên hệ cả hai mặt để cùng suy nghĩ. Cái khe hẹp giữa hai mặt đối xứng đó chính là con đường của tư tưởng.
Ngoài ra, cái được gọi là tri thức thực chất cũng chính một bước phát triển của cách nghĩ đối xứng. Sau khi xác định được phương hướng suy nghĩ vấn đề, không thể cứ cố “lao đầu vào”. Nhất định phải tìm ra một vật cùng chiếu vào mới có thể nghĩ thông được.
- Nghĩ tách rời mới có thể nghĩ thoáng
Ba đặc điểm của tư duy mang tính sáng tạo là: Một là tính lưu loát của tư tưởng, phải nghĩ được thông thoáng, nhạy cảm, không bị chướng ngại. Hai là tính biến báo của tư tưởng, phải nghĩ được linh hoạt, ứng biến nhanh. Ba là tính độc đáo mới lạ, phải nghĩ được khác người. Ví dụ, chiếc ly thủy tinh có thể làm được gì? Nếu trẻ đáp: uống trà, uống nước, uống bia, uống coca, uống sữa… Một lúc nói ra được mấy chục cách sử dụng, điều này chứng tỏ tư tưởng của trẻ rất lưu loát. Nếu hỏi lại trẻ và trẻ đáp: dùng để đựng muối, gia vị, bột giặt, làm gạt tàn thuốc, ném chó… Điều này chứng tỏ tư tưởng trẻ biết biến báo, ứng phó nhanh. Nhưng nếu hỏi lại trẻ và trẻ đáp: không dùng để uống hoặc để đựng, mà đập vỡ nó ra, xay thành bột thủy tinh rồi nhuộm màu lên, từ đó làm thành bức tranh nghệ thuật bằng bột thủy tinh với màu sắc được chế từ vật liệu nguyên gốc. Điều này chứng tỏ tư tưởng của trẻ có tính độc đáo mới lạ.
- Suy nghĩ tổng quát mới nghĩ được chính xác.
Bất kỳ sự việc nào cũng đều là một phần của cả một tổng thể sự vật. Và bất kỳ sự vật nào cũng đều là tổng thể của một số sự vật cục bộ. Chẳng hạn như trái đất là một phần của vũ trụ, nhưng trái đất lại là tổng thể của nhiều quốc gia. Vì thế muốn nghĩ được chuẩn xác sự việc nào cũng cần phải nghĩ tổng quát. Hiệu ứng tổng thể sẽ có hai mặt. Một là, tổng thể dù lớn hơn vẫn đều trở thành một phần của một tổng thể khác lớn hơn nữa. Hai là, tổng thể bao giừo cũng lớn hơn từng bộ phận.
Xin nêu ra một ví dụ. Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, có một lần Tề Vương và Điền Kị cùng đua ngựa. Mỗi người đều chọn ra ba con ngựa ở các cấp thượng, trung, hạ. Ai thắng sẽ được nghìn vàng. Nếu chọn ngựa đua theo cùng đẳng cấp như thượng đua với thượng, trung đua với trung, hạ đua với hạ, Điền Kị thấy khó nắm được phần thắng. Mưu sĩ của Điền Kị là Tôn Tẫn liền hiến một kế: lấy ngựa cấp hạ đua với ngựa cấp thượng, lấy ngựa cấp thượng đua với ngựa cấp trung, lấy ngựa cấp trung đua với ngựa cấp hạ. Kết quả Điền Kị thắng hai, thua một, giành được nghìn vàng. Đó chính là hiệu ứng tổng thể. Từ ví dụ trên, một mặt có thể thấy, Tôn Tẫn chỉ là một trong số tổng thể các mưu sĩ của Điền Kị. Và Điền Kị là một phần trong số tổng thể các đại thần của Tề Vương. Tề Vương và Tề quốc là một phần của tổng thể Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc. Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc là một phần trong lịch sử Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc là một phần của lịch sử thế giới… Mặt khác có thể thấy, nếu đem ngựa cấp thượng đọ với ngựa cấp thượng, ngựa cấp trung đọ với ngựa cấp trung, ngựa cấp hạ đọ với ngựa cấp hạ, tức là từng bộ phận đọ với nhau thì chỉ có thể xuất phát từ bộ phận, chứ chưa thể xuất thể từ cái tổng thể. Như vậy rất khó cầm chắc được việc thắng thua. Do vậy Tôn Tẫn đã xuất phát từ nguyên lý tổng thể, tập hợp ra quy tắc mới và kết quả đã giành được thắng lợi. Như vậy cái tổng thể nhất định phải lớn hơn từng bộ phận.
- Nghĩ ngược lại mới nghĩ được sinh động
Trong quá trình tư duy, nếu tập trung chú ý vào những phần khác người, có thể nhanh chóng đem lại những kết quả mới lạ. Còn nếu chỉ tập trung chú ý vào những sự việc mà mọi người đã chú ý hoặc đã cùng công nhận thì chỉ có thể đuổi theo sau lưng người khác, không thể sáng tạo ra cái mới. Đó là kết luận của lịch sử phát triển khoa học.
Việc nghĩ ngược lại có yêu cầu hai mặt. Một là yêu cầu mang tính ngược chiều. Có ý thức đặt trọng điểm cần suy nghĩ vào mặt tương phản. Hai là yêu cầu mang tính dị thường, dám vứt bỏ những cái khung cũ trong đầu. Xin đưa ra một ví dụ, có một thành phố ở Hà Lan luôn tràn ngập rác do mọi người không tự nguyện vứt rác vào thùng. Bộ Vệ sinh đã áp dụng nhiều phương pháp giải quyết như: phạt tiền, tăng cường nhân viên tuần tra… nhưng hiệu quả vẫn rất kém. Cuối cùng họ chọn ra một cách: thiết kế ra một loại thùng rác biết nói tếu. Mỗi khi vứt rác vào, máy ghi âm tự động bật lên một đoạn tấu hài. Và mỗi thùng rác có những đoạn tấu hài khác nhau, lại luôn được thay đoạn mới, hai tuần một lần. Kết quả là mọi người đều tình nguyện đem rác vứt vào thùng, dù đường xa đến đâu. Thành phố lại trở nên sạch sẽ. Đó chính là điều kỳ diệu của việc nghĩ ngược lại.
2. PHẢI CÓ PHƯƠNG PHÁP ĐẢ THÔNG
Điều cốt yếu của sự thông minh là tư duy độc lập. Nói chung, sự khác biệt về trí thông minh giữa người và người không quá lớn, ngoài trừ số ít ỏi các thiên tài và thằng ngốc. Thực ra mọi người đều tương đối giống nhau, điểm khác biệt giữa người với người thường được quyết định trên căn cứ người đó có thể tư duy độc lập và tự giải quyết được vấn đề hay không.
Chỉ có độc lập tư duy mới có thể “đả thông” được. Có vậy mới thực hiện được hoà hợp thông suốt, học một hiểu mười. Do đó, trong năng lực học tập, độc lập tư duy là điều quan trọng nhất. Độc lập tư duy là tiền đề của việc có phát hiện, có đột phá, có sáng tạo. Đồng thời cũng là điều kiện tất yếu để lý giải và nắm vững được kiến thức. Nếu không có tư duy độc lập, đừng nói tới sáng tạo, bởi lúc này chỉ có thể bắt chước mà thôi. Sự tiến bộ của xã hội, sự cường thịnh của đất nước, sự phát triển của khoa học, tất cả đều dựa vào tư duy độc lập của mỗi con người.
Độc lập tư duy là tiêu chí của con người nhằm hoàn thiện mình. Chỉ khi có năng lực tư duy độc lập, con người mới có thể tự phán đoán, tự quyết định, tự lựa chọn. Và ý thức tự thân của con người mới có thể từng bước hình thành và không ngừng hoàn thiện.
Nếu không biết độc lập tư duy, việc bồi dưỡng năng lực cụ thể của từng phương diện sẽ phải chịu những tác động rất lớn. Và về tầng thứ năng lực, không thể đạt được trình độ cao, không thể vận dụng có hiệu quả tri thức và năng lực để giải quyết vấn đề.
Một đứa trẻ nếu không hình thành thói quen độc lập tư duy, trong cuộc sống cũng khó có thể độc lập, nỗ lực nghĩ biện pháp để giải quyết vấn đề. Như vậy, học tập là một công việc hoàn thành độc lập. Thầy cô và bố mẹ chỉ có tác dụng hỗ trợ, và phần lớn trẻ phải tự mình mầy mò, nghiên cứu. Nhất là trong thi cử, nếu không có năng lực độc lập tư duy, tất yếu không thể đạt được thành tích tốt. Cần phải nói rõ hơn rằng, thi cử là một dạng hình thức mô phỏng có thể thể hiện được nhiều nhất năng lực tư duy độc lập và năng lực giải quyết vấn đề trên thế giới hiện nay. Mặc dù sự tồn tại của nó không đủ cùng với hiệu ứng nhất định.
Tư duy là đặc trưng quan trọng của con người, và độc lập tư duy là biểu hiện tập trung mang tính năng động của tư duy. Bản thân tư duy có rất nhiều đặc điểm, ví dụ tư duy trừu tượng, tư duy hình tượng, tư duy sáng tạo, tư duy phương hướng… Trong đầu óc người Trung Quốc thường bị chụp phải những chiếc vòng kim cô vô hình, từ đó tư duy thường bị định hướng, không tài nào thoát khỏi cái vòng tư duy mag tính đơn hướng.
Đồng thời chúng ta cũng phát hiện ra rằng, việc quyết định chất lượng học tập của trẻ cũng do năng lực tư duy có được khai phá phong phú hay không. Chúng tôi cho rằng, phát triển và rèn luyện tư duy của trẻ là con đường cơ bản để khai phá trí tuệ và thực hiện tư duy độc lập. Và chỉ khi gặp phải vấn đề khó, trí thông minh của con người mới có cơ hội được thể hiện. Vì vậy, phát triển và rèn luyện năng lực tư duy của trẻ cũng phải cùng tiến hành xử lý với “vấn đề khó” hoặc “vấn đề thú vị”. Một là, khi gặp khó khăn, phải suy nghĩ động não mới có thể giải quyết được. Hai là, phải thú vị mới có thể thu hút được trẻ giải quyết vấn đề. Do vậy, bạn cần phải nắm vững hai dạng hoạt động rèn luyện tư duy này. Ba là, cần có sự hoạt động, điều động tất cả chức năng của cơ quan, đầu tư toàn diện.
- Rèn luyện tư duy của trẻ bằng những đề bài thú vị.
Sự thú vị và khả năng tư duy luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bởi vì “thú vị” nên mới khơi gợi được niềm hưng phấn sâu sắc của trẻ, kích thích tính chủ động trong việc học tập của trẻ. Chức năng chính của những “chủ đề thú vị” là có thể khai quật được những tư duy, những nhận thức và năng lực lý giải vốn nằm dưới tầng thứ sâu nhất trong tâm thức trẻ.
Tất cả những đề bài rèn luyện trí tuệ đều ẩn chứa phương pháp tư duy phong phú. “Đề bài thú vị” thông thường có thể chia thành hai loại căn cứ theo tầng thứ. Một là, đề bài rèn luyện tư duy cơ bản. Thường là qua việc kể một câu chuyện để nêu ra một dạng phương pháp. Phương pháp ngụ ngôn nằm trong câu chuyện, từ đó dẫn dắt trẻ suy nghĩ theo hướng tích cực. Hai là, những đề bài rèn luyện tư duy khoa học, bao gồm các đề bài thú vị kinh điển, những đề bài cổ, những đề bài nổi tiếng thế giới trong nhiều ngành khoa học tự nhiên như toán, ngữ văn, vật lý, hoá học…
- Rèn luyện tư duy của trẻ bằng việc để trẻ thiết kế và tham gia vào các hoạt động vui chơi.
Trò chơi là phương pháp học tập tốt nhất của trẻ. Chỉ có trò chơi mới có thể điều động được tất cả các giác quan của trẻ, giúp trẻ tự do tự tại phát huy niềm vui sướng của tư duy. Thành phần tưởng tượng của trò chơi có tác dụng giúp cho tư duy ở dạng rời rạc được sinh sôi, cung cấp cho trẻ cơ hội vui chơi, và giúp trẻ phát triển được sức sáng tạo sau này.
Những đứa trẻ ham chơi luôn có tính sáng tạo và tính tìm tòi rất mạnh. Trong trò chơi, trẻ phát hiện và rèn luyện được tài năng và trí tuệ của chúng, đồng thời cũng bồi dưỡng được rất nhiều dạng hứng thú. Những hứng thú này sẽ chiếm vị trí trọng tâm trong cuộc sống trưởng thành của chúng. Khi những trò chơi hữu ích chiếm thời gian ngoại khoá của trẻ, nó sẽ có lợi cho sự trưởng thành của trẻ và việc học tập hệ thống kiến thức. Bồi dưỡng trẻ đọc đủ các thể loại như thiên văn, địa lý, lịch sử…, tiến hành các trò chơi tìm kiếm có liên quan đến lĩnh vực này, chẳng hạn hướng dẫn trẻ tìm kiếm UFO (unknow flying object – đĩa bay) để trò chơi có sự tham gia của khoa học và giàu tính tìm tòi. Từ đó có thể giúp trẻ hình thành động lực mang tính thói quen trong việc chủ động suy nghĩ vấn đề.
Có thể nói, một bí mật của giáo dục chính là trò chơi. Ngoài ra, trò chơi còn là biểu hiện thuần túy nhất của di truyền hành động, là con đường và nhu cầu của cơ thể và tâm lý phát triển. Đối với những trò chơi thích ứng với áp lực học tập nặng nề, có thể hình thành một cách chuyển đổi, từ đó có thể đạt được tác dụng buông lỏng. “Trò chơi” thông thường có thể căn cứ vào số người tham gia và vị trí chơi để chia thành hai loại. Một loại là trò chơi của cả gia đình. Loại kia là trò chơi của đám trẻ.
Related Posts
No related posts.




