Khích lệ trẻ ham học (33)

Tác giả: Lâm Cách
Nhà xuất bản Thế giới mới, Trung Quốc, 2003.
Dịch giả: Nguyễn Lệ Chi
3.3 Năng lực làm bài
Học thì cần phải dùng. Thông qua việc làm bài, trẻ nắm vững được cách sử dụng kiến thức như thế nào. Trẻ thông qua ứng dụng, càng hiểu sâu thêm về kiến thức. Điều quan trọng hơn là trước mỗi đề bài, trẻ có thể tiến hành quan sát, mổ xẻ, phân tích, phán đoán, chỉ định phương án, giải quyết… một cách chính xác, có hiệu quả. Từ đó nâng cao năng lực phân tích và giải quyết vấn đề. Do vậy đối với trẻ, làm bài là năng lực mang tính cốt yếu. Chỉ có năng lực đã chuẩn bị làm bài mới có thể học tốt được. Rất nhiều trẻ cho rằng chỉ cần làm hết bài là xong, vì vậy lấy việc làm bài là mục tiêu. Nói một cách khác, mục đích thực sự của việc làm bài không chỉ là vận dụng kiến thức và kinh nghiệm tích luỹ, mà quan trọng hơn là hình thành năng lực. Vì vậy, các bậc phụ huynh cần phải giúp đỡ trẻ trong quá trình làm bài, không được để trẻ quên mất nhiệm vụ bản thân, lại càng không thể làm bài chỉ để hoàn thành nhiệm vụ.
Đồng thời, chúng ta còn cần phải suy nghĩ tới một vấn đề, tóm lại cần phải làm bao nhiêu đề bài? Làm nhiều bài tập có mang lại hiệu quả không?
Trước tiên, đề bài là nguồn vô tận, mãi không thể làm hết. Đề bài cũng biến hoá khôn lường. Tức là dù có thành lập một kho đề bài thì dung lượng cũng là hữu hạn. Và nhiều bài tập như vậy, nếu chỉ một người làm sẽ không tài nào làm hết. Và dù có làm hết, nếu muốn ghi nhớ hoàn toàn những đề bài và cách giải này cũng là điều khó khăn không thể tưởng tượng nổi. Cần phải biết rằng những kỳ thi nghiêm túc rất ít khi lục lại những đề cũ. Ngoài ra, giá trị của kinh nghiệm giải đề còn nằm ở chỗ ứng dụng thực tế của chúng. Vì kinh nghiệm giải đề chỉ là một trong các nhân tố đối với việc giải đề, chứ không phải là nhân tố duy nhất. Giải đề là một khái niệm hệ thống. Hệ thống này cũng giống như một cái xưởng chế sẵn của công ty xây dựng. Chúng ta biết rằng nếu chỉ vào những thứ “chế sẵn” sẽ không thể hoàn thành được các công trình. Vì trong quá trình thực thi, cần phải căn cứ vào điều kiện thay đổi để tiến hành nhận thức sự khác biệt, lựa chọn, gia công, cải tạo, tập hợp lại để lắp ráp… Đó là phương thức tư duy mang tính sáng tạo, nhưng hiệu quả của công việc này ra sao còn phải căn cứ vào phương pháp tư duy giải đề của chúng ta có chính xác hay không, chứ không phải nằm ở chỗ chúng ta tích luỹ được bao nhiêu kinh nghiệm. Do vậy, điều quan trọng nhất là phải suy nghĩ kĩ, tìm kiếm phương pháp.
- Khi trẻ phải đối mặt với một khối lượng lớn bài tập. Điều đầu tiên chúng sẽ nghĩ tới là làm thế nào để nhanh chóng hoàn tất số bài đó, chứ không phải là làm thế nào để nâng cao được năng lực qua quá trình làm bài. Như vậy trẻ đã biến lao động trí não thành lao động thể lực, không thể cảm nhận được niềm vui trong học tập. Vậy đề bài từ đâu ra? Đề bài được soạn ra căn cứ từ kiến thức. Nếu nắm được cái “căn bản” của nó, tự chúng ta cũng có thể tự soạn ra đề bài, muốn bao nhiêu cũng có.
- Khi làm bài càng phải kết hợp thực tế. Đối với những người khác nhau, hoặc những giai đoạn học tập khác nhau của cùng một con người, những người khác nhau đối với những đề bài khác nhau… sẽ đều giải đề khác nhau. Một là, khác nhau do đề bài. Đối với những đề bài tiêu chuẩn, phải có kinh nghiệm giải đề. Đối với những đề bài phi tiêu chuẩn và khác lạ, phương thức tư duy rất quan trọng. Đối với những đề bài sử dụng nhiều từ ngữ, việc nắm rõ kiến thức ngôn ngữ rất quan trọng. Hai là, khác nhau do con người. Đối với những học sinh lớp bé, việc học chắc kiến thức, nắm vững phương pháp giải đề, làm thêm một số đề bài, tích luỹ kinh nghiệm rất quan trọng. Đối với những học sinh lớp lớn, điều quan trọng nhất là nhấn mạnh phương pháp tư duy.
Phải làm bài như thế nào mới có hiệu quả?
Muốn làm bài có hiệu quả, phải chú ý tới cả ba mặt: kiến thức là cơ sở để giải đề, phương pháp là thủ đoạn để giải đề, tư duy là sách lược để giải đề. Để kiến thức có thể hòa hợp được thống nhất, phương pháp được linh hoạt đa dạng, ý thức giải đề có được tư duy mau lẹ, điều cốt yếu nằm ở những nguyên tắc sau:
- Làm những “đề xuất sắc”. Cái được gọi là xuất sắc ở đây chính là một đề bài cần phải suy nghĩ vài phút, đột nhiên nghĩ ra được cách làm. Cụ thể hơn là, bản thân đề bài không có sai sót. Không chỉ cần thuật lại về định nghĩa, định lý, phương pháp; mà trong phương pháp giải và con đường cũng đầy sức sống, tính tổng hợp mạnh, vận dụng được linh hoạt không gian khoáng đạt, không áp dụng kiến thức một cách máy móc. Cùng một đề bài, có hai khả năng, một là không chọn dùng những đề bài quái lạ, không có giá trị đối với việc lý giải khái niệm, phương pháp tư duy không phù hợp với quy luật thông thường. Hai là không thể làm bài chỉ vì đối phó với thi cử, lại càng không thể ôm hy vọng khi thi sẽ xuất hiện đề bài đó. Nếu không sẽ bị sa lầy vào đống đề bài “tủ’ và ra sức học thuộc lời giải.
- Làm những “đề nhiều cách giải”. Làm những “đề mang tính chung”. Trên cơ sở làm những đề nhiều cách giải, phân tích và tìm kiếm bản chất chung của những cách giải khác nhau, một là trên phương pháp tư duy, những cái nào là chung? Hai là trong từng bước làm cụ thể, những cái nào là chung? Ba là vài cách giải hòa thành một, từ đặc biệt tới thông thường, thống nhất tới một phương pháp đơn giản nhất.
- Làm “những đề mang tính quy luật”. Việc hình thành quy luật tư duy giải đề thực sự có thể tin cậy được phải nằm trên cơ sở tổng kết tính chung. Lại so sánh những điểm chung của một loạt đề bài, phát hiện ra tính thống nhất của điểm chung, hình thành nên quy luật tư duy giải đề mang tính phổ biến.
Những nguyên tắc và yêu cầu trên là bốn bậc thang quan trọng để làm đề. Thực hiện từng bước một, năng lực giải đề của trẻ sẽ cao hơn. Làm thế nào để hướng dẫn trẻ làm bài tốt? Ngoài những nguyên tắc trên, còn có một số kỹ thuật cần phải nắm vững. Có thể chia làm hai bước sau:
3.3.1 Hình thành nét khái quát giải đề, xác định cấp độ khó
Sau khi đọc xong đề bài, trong đầu phải nhanh chóng hình thành nét khái quát về cách giải. Tức là cần phải lập tức nêu ra được điểm kiến thức mà đề bài yêu cầu, quá trình giải được chia thành mấy bước, phải vận dụng những kỹ thuật gì, đề bài thuộc dạng gì, độ khó tới cấp mấy. Độ khó thường được chia thành bốn cấp độ sau: cấp 1 là vừa nghĩ đã hiểu ngay, không cần phải động bút. Cấp 2 là vừa nghĩ, vừa lấy bút vạch xuống mới ra. Cấp 3 là nghĩ mãi vẫn không ra. Nhưng sau khi đọc lại đề, có thể giải được. Cấp 4 là nhất thời không thể gặm nổi. Sau khi ôn tập bài, đọc lại vở ghi, nghĩ lại lời thầy giáo… vẫn không giải được. Đề bài ở những cấp độ khó khác nhau cần phải áp dụng những thái độ khác nhau. Đề ở cấp 1 “có thể làm, có thể không làm”. Đề ở cấp 2 “thuận tay làm tốt, làm hay, tích luỹ cảm giác thành công”. Đề ở cấp 3 “tập trung sức mạnh tiêu diệt nó”, sau đó đánh kí hiệu lên, tới lúc ôn tập, phải xem lại một lượt. Đề ở cấp 4 “tạm thời để lại, rồi nhờ thầy cô giảng giải”, hoặc tranh thủ giải quyết nó nhờ sự giúp đỡ của người khác. Sau khi giải được bài, phải ra sức tìm kiếm những phương pháp giải khác.
3.3.2 Thường xuyên ôn tập lại, tỉ mẩn “gặm nhấm” những bước giải
Làm xong một đề, điều quan trọng nhất không phải là lập tức làm sang đề tiếp theo, mà cần phải dừng lại, quay lại nhìn “con đường” vừa đi qua. Tiến hành phân tích, tổng kết thật tỉ mỉ, phát hiện ra những thứ mới mẻ. Một là, cần phải xem mình giải đề bài đó ra sao? Những bước quan trọng khi hoàn thành cách giải là gì? Hai là, nhớ lại mình đã nghĩ ra cách giải như thế nào? Ba là, xem còn những phương pháp nào khác không và hoàn thành chúng. Bốn là, so sánh những cách giải khác nhau, khai thác bản chất chung. Làm đề như vậy sẽ rất thú vị. Thực ra có rất nhiều niềm vui không phải đến từ việc hưởng thụ hoặc khen thưởng, mà từ cảm giác thành tựu. Tức là cảm giác thành công sau khi giải được một bài đã khiến trẻ không ngừng vượt qua chính mình, sáng tạo chính mình.
Related Posts
No related posts.




