Khích lệ trẻ ham học (Kết)

Tác giả: Lâm Cách
Nhà xuất bản Thế giới mới, Trung Quốc, 2003.
Dịch giả: Nguyễn Lệ Chi
3.4. Năng lực ứng thi
Ứng thí chính là trong một khoảng thời gian quy định, phải hoàn thành những đề bài và yêu cầu của người ra đề. Năng lực ứng thí là năng lực cần sẵn sàng của mỗi con người hiện đại. Mỗi người trong cuộc đời đều cần phải đối mặt với rất nhiều kì thi, ví dụ thi vấn đáp, ví dụ những lựa chọn trong bước chuyển ngoặt quan trọng của đời người. Có thể nói, giáo dục ứng thí là tiêu cực, nhưng năng lực ứng thí lại mang giá trị vĩnh hằng.
Bản chất của việc thi cử là tiếp nhận thử thách. Một học sinh bước vào trường thi, tức là đi vào một khung cảnh phức hợp riêng biệt. Đó cũng là nơi kiểm nghiệm trí nhớ kiến thức, là nơi giao tranh tâm lý giữa kẻ ra đề và người giải đề, cũng là nơi ứng dụng thực tế kiến thức đã học.
Thông thường, có thể chia việc thi cử làm hai loại. Một là thi mang tính nghiệm thu, chủ yếu là giúp giáo viên hiểu rõ tình hình học tập và mức độ nắm kiến thức của học sinh. Đồng thời cũng sắp đặt sẵn một số cuộc tập dượt cho các kỳ thi trong tương lai, như thi hết chương, thi giữa học kỳ, thi hết học kỳ. Hai là những kỳ thi mang tính chất tuyển chọn, đặc điểm là có tính sàng lọc ác liệt. Tất cả các học sinh tiến hành phân loại, tập hợp, căn cứ vào những đẳng cấp khác nhau để tiến hành đối xử khác biệt, chẳng hạn thi chọn trường, thi lên lớp…
Xét từ góc độ hiện thực, bất luận thế nào, loại thi đầu là nhằm phục vụ cho loại thi sau. Những mô phỏng mạo hiểm của loại thi đầu nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho loại thi sau. Cũng có thể rèn luyện sức chịu đựng tâm lý cần phải có cho các kỳ thi thuộc loại sau. Cũng có thể thông qua việc rèn luyện loại thi đầu để đạt được sự tự nhận thức. Chỉ cần thường xuyên vượt qua những kỳ thi mang tính chất nghiệm thu, tự mình thường xuyên đạt được những dấu hiệu của thành công. Cuối cùng, những thành quả đều được thể hiện ở kỳ thi sau.
Về việc làm thế nào để tiến hành ôn tập, đọc sách trước khi thi, cùng với những công việc chuẩn bị tất yếu khác, ở đây chỉ tập trung ở ba mặt sau:
- Trước khi thi, hướng dẫn trẻ xâu chuỗi tất cả kiến thức. Qua việc ôn lại, điều chỉnh, hệ thống hóa, khiến những thứ đã học quay lại trong đầu, hình thành nên một khung kiến thức. Gấp sách lại, trước hết tiến hành nhớ lại, vừa nhớ lại, vừa vẽ những nét khái quát, điểm chính và kết cấu lên giấy… Những chỗ nào chưa rõ, đừng vội vã mở sách ra. Phải sau khi đã dốc hết sức, nỗ lực suy nghĩ, cuối cùng mới mở sách ra. Sau khi mở sách, phải đối chiếu lại, đối với những phần hoàn toàn chính xác nên bỏ qua. Còn đối với những kiến thức hoặc cách giải đã hoàn toàn quên sạch, cần tập trung thời gian và công sức để phân tích nguyên nhân tại sao bị quên, đồng thời phải hàn kín ngay những lỗ rò rỉ đó. Cuối cùng hình thành nên khung kiến thức lập thể.
- Hướng dẫn trẻ coi trọng từng câu nói trong bài. Đối với thi cử, từng câu chữ trong bài đều là “lời vàng lời ngọc”, đều là những thứ tốt đẹp khiến người ta hưng phấn. Nếu không tại sao lại có nhiều người sau khi thi xong, mở lại sách vở, đều thường xuyên than “hóa ra là vậy”?
- Giúp trẻ điều chỉnh tốt sức khoẻ, tinh thần, tâm lý, luôn có ý thức sẵn sàng ứng thí. Ngoài những điều này, một số ít trẻ có thể xuất hiện chứng mệt mỏi trước những kỳ thi quan trọng, ví dụ “quá lo lắng chú tâm vào kỳ thi nên mất ngủ hoặc ngủ không ngon giấc trước kỳ thi”, “vừa vào trường thi đã hoa mày chóng mặt”, “tâm trí hoảng loạn, khó thở”… Những căng thẳng và mệt mỏi này sẽ tác động tới việc phát huy trình độ thực của trẻ. Đồng thời cũng ngăn chặn việc nâng cao năng lực ứng thi. Lúc này, quan trọng là phải luôn nhấn mạnh với trẻ rằng, năng lực học tập của trẻ là rất mạnh. Thành tích của một vài kỳ thi không thể chứng tỏ được vấn đề. Chỉ cần chăm chỉ học tập, thi cử nhất định thuận lợi. Mặt khác, những lúc cần thiết, có thể sử dụng phương pháp nhạy cảm để tiến hành điều chỉnh. Một là khiến trẻ học được cách chủ động thả lỏng cơ bắp. Dùng cách rèn luyện này để đối chọi với chứng khiếp sợ và mệt mỏi của trẻ. Ví dụ, hoạt động cơ bắp, điều chỉnh hít thở… Hai là để trẻ học cách thư giãn, nhắm mắt lại, tưởng tượng trong thẳm sâu của linh hồn mình có một châu lục xanh, trên đó có một dòng sông nhỏ. Trên bờ mọc đầy cây cỏ, hoa lá, rọi bóng xuống dòng sông trong vắt. Cứ nghĩ như vậy, tâm trạng sẽ nhẹ nhõm hẳn lên.
Đương nhiên, điều quan trọng nhất là, làm thế nào để bồi dưỡng được năng lực ứng thí của trẻ trong quá trình thi. Nói một cách khác là sau khi trẻ mở giấy thi ra, năng lực thi cử được hình thành ra sao. Theo kinh nghiệm của nhà giáo dục Ngụy Thụ Sinh, cần phải kết hợp những nhận thức của bản thân, có thể chia thành các bước sau:
3.4.1 Chỉ thư giãn trong chốc lát, phải tập trung ý thức ứng thí
Khi trẻ mở đề thi, điều quan trọng nhất không phải là lập tức cầm bút lên làm, mà là mất thời gian khoảng hai, ba phút để thư giãn (như đã nói ở trên). Rồi tập trung sức chú ý, hình thành ý thức thi cử ổn định. Tức là đã bước vào một cảnh giới “thần định”.
3.4.2 Tổng quát toàn cục, tránh tình trạng cái được cái mất
Trước khi làm bài, vẫn cần vài phút để đọc qua đề một, hai lượt, có một cái nhìn sơ bộ về phân bố tổng thể đề thi:
- Một là xem tổng số trang giấy thi có đầy đủ không.
- Hai là xem chất lượng in trên giấy có làm ảnh hưởng tới bài giải không.
- Ba là xem độ khó của đề thi được phân bố ra sao, phải xác định trước rồi mới làm.
- Bốn là xem số lượng đề thi. Nếu số lượng nhiều, cần phải tranh thủ thời gian, tăng tốc làm bài. Nếu số lượng ít, cần chuẩn bị chắc chắn mới giải đề.
- Năm là cần chú ý các sự việc và những nhắc nhở của thầy cô giám thị.
- Sáu là đề nào nhiều điểm, đề nào ít điểm. Phải ưu tiên giải những đề nhiều điểm trước.
Như vậy sau khi tổng quát được toàn diện, tránh được những thiếu sót không đáng có khi thi.
3.4.3 Liên tưởng thẩm định đề, phán đoán mục đích kiểm tra
Mỗi khi làm một đề bài, trước tiên cần phải học cách liên tưởng thẩm định đề. Mục đích của việc làm này là làm rõ ý tưởng của đề bài. Đặc biệt là ý nghĩa trong từng câu nói của đề bài. Tóm lại, cần phải đọc hoàn chỉnh, phải đọc từng câu một. Cuối cùng trong đầu hoàn thành việc nắm vững ý của đề bài. Việc liên tưởng thẩm định đề bài cần có những yêu cầu cơ bản sau:
Trước tiên phải đọc chính xác, không ngắt câu, không thêm hoặc bớt từ.
Thứ hai, phải liên tưởng kiến thức của mình với loại hình đề bài.
Thứ ba là thử phán đoán căn cứ mệnh đề của người ra đề. Nếu bố mẹ có điều kiện, nên nhắc nhở trẻ trước khi thi phải hiểu được những nguyên tắc cơ bản của việc ra đề và phương hướng thông thường của mệnh đề. Nếu phương hướng của mệnh đề thường căn cứ vào giáo trình và đề cương giảng dậy, nổi bật trọng điểm, tương đối toàn diện thì nội dung đề bài sẽ rất rộng, cần nhiều kiến thức, cơ động linh hoạt, nhưng không vượt quá đại cương, mức độ nông sâu cũng vừa phải, không có dạng dị biệt, khác thường, hình thức của đề bài cũng rất đa dạng. Cho tới nay, các kì thi thông thường đều có ba đặc điểm chính: nội dung kiến thức được đề cập rộng, đề bài nhỏ, yêu cầu giải đáp linh hoạt. Yêu cầu về độ khó cũng thường có quy luật như vậy. Tức là việc thi trí nhớ và trình độ lý giải chiếm 50%, thi phân tích và trình độ suy nghĩ chiếm 30%, thi vận dụng tổng hợp và trình độ mới chiếm 20%.
3.4.4 Làm bài mau lẹ
Hãy nhắc trẻ một nguyên tắc “không lề mề khi thi”. Đối với những đề bài đã mất hai phút rưỡi nhưng chưa nghĩ ra được hướng giải, tạm thời có thể bỏ sang một bên, đợi lát nữa quay lại “gặm”. Phải làm ngay, làm lẹ những đề bài đã biết cách giải. Trước hết vừa để đảm bảo được điểm số, tăng sự tự tin, vừa có lợi cho việc điều chỉnh tiết tấu của cuộc thi.
3.4.5 Khai phá con đường tư duy, giải quyết đề khó
Đối với những đề bài tương đối khó, vẫn cần phải nỗ lực giải quyết. Thông thường, không có đề khó tuyệt đối. Nguyên nhân chủ yếu xuất hiện đề khó trong khi thi chính là chưa kịp thời liên tưởng được tới kiến thức. Con đường tư duy chưa được mở. Chỉ cần khai phá được con đường này, kiến thức sẽ được ào vào ngay lập tức. Lúc đó, vấn đề có thể trở nên rất đơn giản.
Về điểm này, rất nhiều giáo viên có kinh nghiệm. Có thể hỏi thăm thầy cô xem làm cách nào giúp trẻ khai phá được con đường tư duy. Ngoài việc tăng cường rèn luyện ra, còn phải giúp trẻ học cách sử dụng những biện pháp thường gặp sau để khai phá con đường tư duy kịp thời:
- Trước tiên là thay đổi cách tư duy. Bất kỳ sự vật nào cũng đều được cấu thành từ rất nhiều nguyên tố. Trong quá trình suy nghĩ, nếu một phương hướng nào bị tắc lại, có thể kịp thời thay đổi phương hướng. Điều này thường xuyên được thấy trong toán học. Nhưng đối với các môn học khác cũng vậy.
- Hai là hoá giải thành những con đường tư duy nhỏ. Tức là làm thế nào để chẻ vấn đề lớn ra thành những vấn đề nhỏ. Sau khi giải quyết xong tất cả vấn đề nhỏ, vấn đề lớn sẽ được giải quyết.
- Ba là con đường tư duy so sánh. Tức là tiến hành so sánh đề bài khó với những đề bài có phần giống nhau hoặc hoàn toàn trái ngược nó. Phân tích sự khác nhau và giống nhau đó. Như vậy sẽ rất nhanh chóng xác định được con đường tư duy giải quyết.
- Bốn là tư duy theo đáp án hình vẽ. Trong đề bài khó, nhân tố giải đề rất phức tạp. Điều này đòi hỏi muốn được bày ra trước mắt thật rõ ràng, cách tốt nhất chính là lấy hình vẽ thành đáp án. Như vậy vừa nhìn thấy đã rõ ngay. Cách tư duy cũng có thể được sinh ra từ đó. Cần chú ý rằng, việc phát triển con đường tư duy cũng rất coi trọng việc rèn luyện tư duy hàng ngày.
Những vấn đề các bậc phụ huynh cần suy ngẫm
1. Khi trẻ không thực hiện được mục tiêu, nhất định bạn không được nói: “Năng lực của con không ổn”. Bởi vì năng lực là tính khả năng của việc nỗ lực vận dụng điều kiện thực hiện hiệu quả. Chỉ cần bỏ công sức, bất kỳ đứa trẻ nào cũng có năng lực. Do vậy, làm thế nào để trẻ có thể nâng cao năng lực quyết tâm?
2. Năng lực chính quyết định thành tích học tập của trẻ là gì? Cần phải giúp đỡ trẻ nâng cao ra sao?
Related Posts
No related posts.




